Thứ tư, ngày 11 tháng một năm 2012 by LTSA

Từ đây đến năm 2015, các tỉnh miền Nam ở vùng đồng bằng sông Cửu Long dự định xuất cảng 5,4 triệu tấn gạo mỗi năm, theo tin Tân Hoa xã và hãng thông tấn Bernama của Malaysia đánh đi từ Hà Nội ngày 11/1.

Các thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là Châu Á, Châu Phi, và các nước Trung Đông.

Việt Nam đề ra kế hoạch cải thiện chất lượng gạo và hình thành các khu vực trồng lúa chuyên biệt để dần dần xây dựng các thương hiệu độc đáo cho mặt hàng gạo xuất khẩu.

Ngoài ra, Việt Nam cũng tính tới việc mở rộng sản xuất gạo thơm, cải thiện quản lý khâu sản xuất và thị trường tiêu thụ.

Trong năm rồi, các tỉnh đồng bằng miền Nam xuất khẩu 6,2 triệu tấn gạo, thu về 3,1 tỷ đô la, tăng về cả số lượng lẫn doanh thu so với năm trước đó.

Nguồn: Bernama, Xinhua
by LTSA

Đức Tâm - Ngày mai, 12/01/2012, Việt Nam và Liên Hiệp Châu Âu sẽ tiến hành vòng đối thoại đầu tiên, tại Hà Nội, trong khuôn khổ Thỏa thuận Hợp tác và Đối tác, được ký kết năm 2010. Nhân dịp này, tổ chức Human Rights Watch đã kêu gọi Liên Hiệp Châu Âu gây sức ép để Việt Nam cải thiện về mặt nhân quyền.
Tổ chức Human Rights vWatch, có trụ sở tại New York, đã công bố một bản khuyến nghị dài 15 trang, kêu gọi Liên Hiệp Châu Âu gây sức ép để Việt Nam thả toàn bộ tù chính trị, đề ra các biện pháp cải thiện về tự do ngôn luận, hội họp, lập hội và tự do tôn giáo.

Trong thông cáo báo chí được phát hành hôm nay, 11/01/2012, HRW cho biết trong năm 2011, « có ít nhất 33 blogger và nhà vận động nhân quyền bị kết án hình sự vì đã bày tỏ chính kiến và niềm tin tôn giáo của mình ». Bên cạnh đó, còn « có ít nhất 27 nhà vận động khác cũng bị chính quyền Việt Nam bắt giữ đang chờ điều tra, xét xử ».

HRW chú ý đến trường hợp của các ông Nguyễn Văn Hải, bút danh Điếu Cày và Phan Thanh Hải, bút danh Anhbasg, bị giam giữ từ năm 2010 mà chưa xét xử và trường hợp bà Bùi Thị Minh Hằng, bị giam giữ trong một cơ sở giáo dục hai năm, không qua xét xử, vì đã tham gia các cuộc biểu tình trong năm 2011, phản đối những hành động gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông.

Tổ chức theo dõi về nhân quyền còn liệt kê danh sách nhiều tù chính trị hiện đang có vấn đề sức khỏe, có người bị giam giữ từ lâu, từ ông Nguyễn Hữu Cầu, 65 tuổi, hiện bị mù lòa và điếc, nhà hoạt động Phật giáo Hòa hảo Mai Thị Dung, 42 tuổi, bị ốm nặng, hai chân liệt, mắc bệnh tim, sỏi mật, hoặc trường hợp linh mục Nguyễn Văn Lý…

Ông Phil Robertson, phó giám đốc phụ trách châu Á của tổ chức HRW, nhấn mạnh : « Giới chức Liên Hiệp Châu Âu cần sử dụng vòng đối thoại để yêu cầu chính quyền Việt Nam cũng tôn trọng những cam kết về nhân quyền theo công pháp quốc tế, tương ứng với các điều khoản về viện trợ và thương mại quốc tế họ mong nhận được ».

Thông cáo báo chí của HRW còn tố cáo Việt Nam cưỡng bức lao động trong các trại cai nghiện, sản xuất một số mặt hàng để xuất khẩu. Do vậy, tổ chức theo dõi về nhân quyền của Mỹ khuyến cáo Liên Hiệp Châu Âu « nên vận động Việt Nam áp dụng một mô hình khác, nhân đạo… và bảo đảm rằng không một mặt hàng nào mang tì vết cưỡng bức lao động được nhập khẩu vào thị trường chung châu Âu ».
by LTSA

Tin Hà Nội - Thêm ít nhất 5 vụ cháy xe trong lúc hai bộ hữu quan lên tiếng giành nhau trách nhiệm tại Việt Nam. Vụ cháy xe mới nhất của năm 2012 xảy ra khoảng 5 giờ rưỡi chiều ngày hôm qua trước đài truyền hình Việt Nam thuộc quận Ba Đình, Hà Nội. Sở hữu chủ chiếc xe cho biết khói xì ra ở yên xe trong khi bà đang phóng vun vút trên đường. Cũng may bà còn kịp mở cốp nắm lấy túi xách và tri hô cầu cứu, nhờ người dân cư ngụ gần đó giúp dập tắt ngọn lửa. Cùng ngày, một chiếc xe vận tải chở kẹo dừa từ quận Tân Phú Saigon định hướng về Bến Tre thình lình phát hỏa tại đường rẽ vào đường cao tốc Trung Lương thuộc quận Bình Tân, Saigon.

Chiếc xe bốc cháy dữ dội khiến không ai chế ngự được ngọn lửa, cuối cùng bị thiêu rụi hoàn toàn. Tài xế xe cho biết vụ hỏa hoạn gây tổn thất khoảng 4,000 đô la. Trước đó, một chiếc xe chở hành khách chạy đường Saigon-Đà Lạt cũng phát hỏa thình lình tại quốc lộ 1A. Chiếc xe bị thiêu rụi hoàn toàn trong vòng 30 phút sau. Nhiều hành khách lúng túng không thoát được ra ngoài, may nhờ người đi đường đập cửa lôi họ ra thoát nạn. Hai hành khách bị ngất xỉu vì khói được đưa đến bệnh viện cứu cấp.

Hành lý của tất cả hành khách trên xe đều bị cháy sạch. Hàng loạt vụ cháy xe từ vận tải, xe chở hành khách cho đến xe gắn máy tiếp tục xảy ra trong những ngày qua, đúng vào lúc Bộ trưởng Bộ Công Thương Cộng sản Việt Nam lên tiếng nhận trách nhiệm, nếu đúng là xe cháy vì người tiêu thụ đổ nhằm xăng dầu giả. Đương sự cũng cam kết sẽ mở đợt tổng kiểm soát hệ thống phân phối để xử phạt thỏa đáng các cơ sở bán xăng không đạt tiêu chuẩn.

Trước đó, Bộ trưởng bộ Giao Thông-Vận Tải Cộng sản Việt Nam cũng đã lên tiếng nhận trách nhiệm để xảy ra gần 100 vụ cháy nổ xe vào năm qua. Nhân vật nà cũng trực tiếp gọi đích danh đơn vị chịu trách nhiệm là Cục Đăng Kiểm Việt Nam. Tuy nhiên các vụ cháy xe tiếp tục xảy ra có vẻ đều đặn hơn trong những ngày đầu năm. Người ta còn lo việc Bộ Công Thương giành trách nhiệm và hứa hẹn mở các cuộc tổng kiểm soát có vẻ không ngăn chận được tình trạng này. Thay vào đó, việc kiểm soát xem ra chỉ là cơ hội để cán bộ tham nhũng kiếm tiền nhiều hơn.
by LTSA



BẮC GIANG (NV) -Lạnh lùng, trâng tráo của sát thủ Lê Văn Luyện và những tiếng khóc nức nở vang lên từng hồi từ phía gia đình nạn nhân biến phiên tòa thành một vở kịch đời sáng 10 Tháng Giêng tại tỉnh Bắc Giang.

Vụ thảm sát hai vợ chồng chủ tiệm vàng Ngọc Bích và đứa con gái nhỏ tại phố Sàn, Bắc Giang 5 tháng trước nay thu hút sự chú ý của dư luận tại Việt Nam. Phiên tòa diễn ra tại tỉnh Bắc Giang quy tụ hàng trăm người diễn ra đầy kịch tích. Theo báo Pháp Luật, phiên tòa đã phải hoãn nhiều tiếng đồng hồ sau giờ khai mạc. Còn người nhà của nạn nhân có lúc bỏ ra về, và một lúc khác xông đến định hành hung bị cáo.

Ðây là phiên tòa hỗn loạn nhất từ trước đến nay với những tiếng gào khóc thê thảm của gia đình nạn nhân. Hơn mười người bịt khăn tang, tay ôm di ảnh của vợ chồng và con gái của người quá cố đòi tử hình sát thủ Lê Văn Luyện 18 tuổi.

Vụ cướp tiệm vàng diễn ra vào đêm 24 Tháng Tám năm 2011. Sát thủ Lê Văn Luyện một mình đột nhập vào căn nhà ba tầng lầu vào lúc nửa đêm, dùng dao chém chết ba người, sau đó vơ vét gần 40 lượng vàng trị giá tổng cộng khoảng 1.27 tỉ đồng, tương đương 63,500 đô.

Ðiều đáng nói là nạn nhân thứ tư sống sót trong vụ thảm sát là bé gái tên Trịnh Thị Bích 10 tuổi không tham dự phiên tòa và hiện nay vẫn chưa biết cha mẹ cùng với em gái đã thành người thiên cổ.




Cùng ra tòa với sát thủ Lê Văn Luyện còn có một số người bị buộc tội “che giấu và không tố giác tội phạm” gồm các ông bà Lê Văn Miên, Trương Thanh Hồng, Lê Thị Ðịnh và Lê Thành Nghi.

Theo báo Người Lao Ðộng thì thái độ lạnh lùng, bình thản của sát thủ trước phiên tòa đã khiến nhiều người phẫn nộ, đặc biệt là thân nhân của các nạn nhân. Nhiều người không kềm được phẫn nộ và bình tĩnh, khóc rống lên liên hồi đến nỗi tòa phải ngừng lại trong giây lát để “ổn định trật tự”.

Theo VietNamNet, phiên tòa xử Lê Văn Luyện chỉ diễn ra buổi chiều ngày 10 Tháng Giêng sẽ còn tiếp tục trong những ngày tới.

Theo dư luận, mặc dù lập luận vòng vo, cuối cùng sát thủ Lê Văn Luyện cũng thú nhận nguyên nhân gây án chỉ vì nghèo và “cần tiền để tiêu”.
by LTSA

HÀ NỘI (NV) -Hôm 9 Tháng Giêng, Bộ Lao Ðộng-Xã Hội Việt Nam cho hay hiện nay có đến hơn 31,000 thợ ngoại quốc làm việc “chui” tại quốc gia này.

Số thợ ngoại quốc liên tiếp tăng trong vòng vài năm trở lại đây đã vượt khỏi tầm kiểm soát của cơ quan thẩm quyền tại Việt Nam.

Phúc trình được báo Tiền Phong trích dẫn cho thấy năm 2008 có 52,633 thợ ngoại quốc làm việc tại Việt Nam. Năm sau, con số này là 55,428 người và năm sau nữa là 56,929 người. Ðến Tháng Chín năm 2011, số lao động ngoại quốc tại Việt Nam vọt lên 78,440 người, trong đó có gần 40% làm việc không có giấy phép.

Theo đại diện Sở Lao Ðộng tỉnh Lâm Ðồng, số người Việt Nam tìm được việc làm mới không tăng mặc dù một số dự án đi vào hoạt động, như dự án bauxite tại tỉnh này chẳng hạn.

Mặt khác, theo phó cục trưởng Cục Việc Làm Việt Nam thì thợ ngoại quốc đến Việt Nam làm việc đều là người Châu Á, đông nhất là Trung Quốc, Nam Hàn và một số ít người Nhật.

Tại cuộc họp tổng kết năm 2011 của Bộ Lao Ðộng, hầu hết các viên chức bộ này đều loay hoay với việc “hoàn thiện quy định pháp luật và xây dựng luật Việc làm” và coi đó là “phương án tối ưu để kiểm soát được tình trạng lao động ngoại quốc làm việc chui”.

Tuy nhiên, dư luận cho rằng đó chỉ là những văn bản trên giấy. Không ít lĩnh vực, luật lệ không thiếu nhưng không ai thi hành, đó là chưa kể nạn tham nhũng hoành hình biến luật lệ có sẵn thành mớ giấy lộn.

Cũng có người nói số tiền phạt tương đương với 1,000 đô mỗi trường hợp khi bị phát giác là quá nhẹ khiến các nhà thầu thuê lao động “chui” làm việc coi thường và bất chấp.

Báo Tiền Phong còn cho biết, tại một số địa phương, đặc biệt là tỉnh Quảng Nam, công ty Trung Quốc trúng thầu xây dựng nhà máy thủy điện áp dụng nhiều biện pháp kỳ thị ra mặt đối với thợ Việt Nam và thợ “đồng hương” của họ.

Nhà máy thủy điện Sông Bung 4 có gần 300 công nhân Trung Quốc làm việc. Tất cả các bảng hiệu đều được in bằng chữ Trung Quốc và người thợ Việt Nam xuất hiện như một người ngoại quốc tại công trường.

Công nhân Việt Nam cho biết làm việc quần quật, không ngơi tay trong khi người thợ Trung Quốc vừa làm vừa chơi mà đồng lương vẫn cao gấp đôi. Phần lớn thợ Trung Quốc chỉ đảm nhận các công việc giản dị như uốn sắt, làm kè, xây tường... còn thợ Việt Nam thì luôn bị ép phải mang khiêng, vác nặng.

Một người thợ Việt Nam tâm sự: “Biết bị phân biệt đối xử nhưng không ai dám nói một tiếng. Ðối với chủ thầu Trung Quốc, ai không chấp nhận công việc thì nghỉ, chứ không được nói ra nói vào.”

Một người thợ khác cũng xác nhận chủ thầu Trung Quốc đuổi thợ Việt Nam thẳng tay. Vì miếng ăn mà người Việt Nam phải chấp nhận công việc “chẳng đặng đừng”.

Hầu như chính quyền địa phương đều biết khá rõ tình cảnh làm việc vất vả của người thợ Việt Nam tại các công trình xây dựng của chủ thầu Trung Quốc, nhưng không làm gì được.

Thay vào đó, cùng lắm là những lời than: “Ðó là luật chơi. Vì họ trúng thầu, làm chủ thầu, nên phía Việt Nam đành phải chịu thôi.”
by LTSA

HÀ NỘI (NV) - Thân nhân một số giáo dân Công Giáo và Tin Lành tại Việt Nam bị bắt trong khoảng những tháng gần đây đã khiếu nại về sự bắt giam trái pháp luật của công an.

Theo một bản tin trên trang mạng Truyền Thông Chúa Cứu Thế (chuacuuthe.com) “Gần đây, một số gia đình có người thân bị Bộ Công An và công an Sài Gòn bắt giữ đã viết đơn khiếu nại gửi đến Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao và Viện Kiểm Sát Nhân Dân thành phố Sài Gòn để khiếu nại về việc họ không được thông báo, tạm giam theo quy định pháp luật.”

Một trong những người đã viết đơn khiếu nại là chị Hồ Thị Lự , ngày 6 tháng 1 năm 2012, khiếu nại về chuyện em trai của chị, Hồ Văn Oanh, 26 tuổi, bị bắt đến nay đã hơn 140 ngày mà gia đình “Không được thông báo ngay về việc bắt em tôi theo đúng quy định tại điều 85 và khoản 4 điều 88 Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự” (BLTTHS).

Chị Lự cáo buộc hành động nín lặng của nhà cầm quyền là “vi phạm nghiêm trọng Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự”. Theo đó, “việc bắt giam và giam giữ người phải theo quy định của BLTTHS” (Ðiều 6). Vi phạm nguyên tắc cơ bản “bảo đảm pháp chế XHCN trong tố tụng hình sự” và “tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân” được quy định tại điều 3 và điều 4 BLTTHS. Theo đó “mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được tiến hành theo quy định của BLTTHS”. Và khi “tiến hành tố tụng... phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân...”

Chị Lự đòi hỏi “cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật”.

Ngày 6 tháng 1 năm 2012, một đoàn gồm 24 người là thân nhân của 17 giáo dân bị nhà cầm quyền bắt giam hơn 4 tháng qua đã tới thăm và chúc Tết sớm Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đang ở tu viện Châu Sơn, Ninh Bình, rồi sau đó đã đến nhà thờ Thái Hà ở Hà Nội cùng các linh mục và giáo dân địa phương dâng thánh lễ, thắp nến cầu nguyện, xin “Mẹ Hằng Cứu Giúp giữ gìn cho những người con em của họ trong chốn lao tù”.

Một số người được tin là bị quy chụp liên quan đến tổ chức Việt Tân, một số người thì vẫn không có tin tức gì.
by LTSA

HÀ NỘI (NV) - Tết nguyên đán sắp đến cũng là dịp để các đại gia Hà thành khoe giàu với việc chưng bày các loại lan có giá từ 3,000 đô một chậu trở lên.

Còn giới công tử con nhà giàu thì khoe mốt chạy mô tô bạc tỉ tiếp theo sau mốt xài các loại “xế hộp” đắt tiền.

Theo báo mạng VTC News, các loại địa lan, hồ điệp đang được các “đại gia” Hà Nội lùng kiếm đưa về nhà trưng bày trong dịp Tết Âm lịch đến trong vòng hai tuần lễ nữa. Có người cho biết, giá lan càng cao càng chứng tỏ thanh thế của “tay chơi”. Vì vậy, nhiều người không ngại bỏ ra hàng chục triệu đồng để mua lấy một chậu phong lan đặc biệt.

Một số nhà vườn còn cho biết, Hà Nội còn có mốt mua lan biếu tặng trong giới “có máu mặt,” và cho người mang đến tận nhà khiến người chủ mới của giò lan mải miết trầm trồ.

Một tiệm bán hàng ở quận Tây Hồ, Hà Nội cho biết, khách hàng của họ là các đại gia mua lan tặng bạn bè và giới đối tác làm ăn. Họ quan niệm rằng mỗi năm chỉ có một dịp Tết cho nên “nếu không vung tay thì không biết có còn dịp nào khác nữa”.

Nhân viên tiệm này cũng “bật mí” tin có hai đại gia ở Thái Nguyên và Hà Nội đã mua “đứt” chậu địa lan với giá 65 triệu đồng, tương đương 3,250 đôla.

Cũng tại Hà Nội hiện có ít nhất hai câu lạc bộ qui tụ các “quái xế” cỡi mô tô hạng sang là Câu lạc bộ mô tô Hà Nội và Câu lạc bộ mô tô Harley Davidson...

Trong dịp Tết nguyên đán được nghỉ dài ngày sắp tới, các câu lạc bộ này cho biết có nhiều cơ hội hoạt động đình đám, rầm rộ trên nhiều phố phường để được hưởng cảm giác “chơi sang”.

Một thành viên của Câu lạc bộ mô tô Harley Davidson tên Ngô Nhật Hoàng nói: “Câu lạc bộ chúng tôi chỉ quy tụ những thanh niên hạng sang vì thú vui chơi xế nổ nổi tiếng không dành cho con nhà nghèo.” Anh này cũng khoe bắt đầu xuất hiện dòng xe mô tô giá từ 60,000 đến 90,000 đô một chiếc trong hàng ngũ tay chơi thuộc câu lạc bộ của anh.




Anh Hoàng cũng cho biết, số thành viên chơi mô tô sang ở Sài Gòn đã tăng gấp ba so với vài năm trở lại đây. Thú chơi độc đáo này cũng đã khiến nhiều người từ bỏ giấc mơ tậu xe hơi để mua lấy những chiếc xe mô tô đời mới thuộc hạng sang.

Có ông còn khoe, cảm giác mà họ thích nhất là có một người đẹp ngồi sau tay lái, ôm cứng lấy ông để cả hai cùng dong ruổi trên đường dài đầy tình tứ, lãng mạn.
by LTSA
Cảnh sát Italia đang đau đầu để tìm lời giải đáp cho sự biến mất bí ẩn của bức tượng một vị thánh nặng 3,5 tấn, đã nằm dưới đáy biển bên ngoài vùng biển Calabria từ năm 2007.

Các nhà chức trách hiện chưa thể giải thích được ai hoặc cái gì đã có thể di chuyển được bức tượng cao đến 2,1 mét, nặng 3,5 tấn và được nhấn chìm dưới độ sâu gần 30 mét dưới đáy biển.
Bức tượng thánh Francis này là một trong nhiều bức tượng thánh được đặt rải rác dưới các đáy biển trên các vùng biển ở Italia, với ý nghĩa sẽ bảo vệ cho các ngư dân và thợ lặn.


Bức tượng được đặt dưới đáy biển để cầu phúc cho các ngư dân
Cảnh sát và các nhà chức trách hiện đang đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau, trong đó có cả khả năng bức tượng đã bị một tàu đánh cá nào đó vô tình kéo lên. Rất có thể đây là một tàu đánh cá bất hợp pháp, nên sau khi kéo bức tượng lên, tàu cá này đã không báo cáo lại sự việc với các nhà chức trách.
Ngoài ra, cảnh sát cũng đang điều tra các báo cáo tại thị trấn gần đó cho thấy một đối tượng giống như bức tượng bị biến mất, nằm trên một chiếc xe tải. Có nhiều khả năng, bức tượng đã bị đánh cắp để bán lại theo đơn đặt hàng.
Tuy nhiên, không dễ dàng gì để có thể kéo lên một bức tượng nặng đến 3,5 tấn như vậy.
Thánh Franics là một tu sĩ hành khất, người được sinh ra tại thị trấn Paola, nơi được đặt bức tượng. Ông đã trải qua 6 năm sống trong các hang động bên bờ biển để cầu nguyện cho những ngư dân. Bức tượng đá bị mất tích được khắc vào những năm 1963, dưới sự yêu cầu của giáo hoàng John XXIII.
Tuy nhiên, sự mất tích bí ẩn của bức tượng này cũng đã tạo nên một điều tích cực bất ngờ, khi một nhóm các thợ lặn địa phương, những người đã lặn xuống tận nơi để chứng nhận sự biến mất của bức tượng, đã vô tình tìm thấy xác của một con tàu đắm dài 15 mét, có tuổi đời lên đến hàng trăm năm. Đây là một phát hiện rất có nhiều giá trị.
Huy Phạm
by LTSA
XIN HÃY VÌ VIỆT NAM YÊU DẤU


(Xin nghiêng mình trước gương dũng cảm của Dân Oan các tỉnh trên toàn quốc Việt Nam đã và đang làm cuộc biểu tình lịch sử tại Sài gòn- Hà nội. Xin đồng bào Việt Nam tị nạn hải ngoại hãy vì tự do, dân chủ của quê hương của dân tộc Việt Nam mà bền lòng hỗ trợ cho cuộc đấu tranh chung. Thân mến gởi về quê hương và đồng bào Việt Nam, trong và ngoài nước, mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi )

Phải thế chứ, phải có ngày lịch sử
Bởi hờn đau chất chứa tự lâu rồi
Bởi căm phẫn đã sôi đầy núi lửa
Đợi giờ thiêng đồng loạt nổ tung thôi !

Thời điểm thiêng liêng giờ đây chói sáng
Từng đoàn người mang thông điệp vùng lên
Ngay giữa Sài Gòn, Bạc Liêu, Đồng Tháp
Đứng dậy, hiên ngang đòi lại nhân quyền ...

Ngọn sóng Tiền Giang reo trên đất nước
Vẫy gọi Vũng Tàu, Bình Thuận, Đồng Nai
Vẫy gọi Bình Dương, Trà Vinh, toàn quốc
Chung dựng tuyến đầu, đòi lại đất đai

Mảnh đất thân yêu bao đời gắn bó
Đầy mồ hôi, đầy nước mắt, ân tình
Nhưng tham ác, bọn tà quyền, giặc đỏ
Cướp của dân làm tài sản riêng mình !!!



Một sớm một chiều, người dân mất tất
Hạnh phúc, tự do, nhà cửa, ruộng vườn
Và từ đó, sống đời như thú vật
Tăm tối, tủi hờn ngay giữa quê hương !

Đến ong kiến nếu ai kia phá tổ
Ong cũng châm và kiến cũng giơ càng
Huống chi người, những năm dài cùng khổ
Mất nước, tan nhà, uất hận, hờn oan ! ???

Huống chi người, một giống nòi hào kiệt
Có bốn nghìn năm bất khuất, kiêu hùng
Có bậc anh thư, có người tiết liệt
Có nỏ thần, kiếm báu, tấm gương trung ...

Nên phải thế, phải một ngày vùng dậy
Nối gót người xưa: cọc nhọn, tre ngà
Ngày lịch sử bắt đầu, vui biê’t mâ’y …
Hỡi đồng bào! ta giải cư’u quê ta !!!




Xin nghiêng mình trước những lòng dũng cảm
Trước những con tim chính trực, công bình
Không ngại hiểm nguy, lưới giăng, bẫy cản
Không sợ cùm gông, tù ngục, cực hình ...

Hỡi toàn quốc, xin kiên cường tranh đấu
Và bên ngoài xin hỗ trợ, đừng lơi
Tất cả đó vì Việt Nam yêu dấu
Vì lương tâm, vì nghĩa vụ làm người !!!


Ngô Minh Hằng
by LTSA

Giọt lệ buồn

Ngọn gió Bấc cuốn sang

Thổi rơi bao lá vàng

Phong phanh tấm áo mỏng

Em nhỏ run tay quàng

Chút hơi ấm cho em

Đứa bé còm cõi đen

Co ro trong lòng chị

Mắt nai chói ánh đèn

Lề đường sương lạnh đầy

Xác sơ tấm thân gầy

Tả tơi manh áo rách

Ăn xin người quanh đây

Ngô nghê tiếng nói cười

Lẫn trong tiếng xe, còi

Vụt qua rồi mất hút

Giọt lệ buồn chơi vơi

Cha ơi! tù phương nao?

Mẹ ơi! mất chốn nào?

Em ơi! chị cũng đói

Gót chân trần nghiêng chao

Quang Dương
by LTSA

Cập nhật tổng hợp những bài viết về tình trạng công an đàn áp dân lành do bạn đọc gửi.

Dân Làm Báo - Đó là cái chết của những công dân Việt Nam dười bàn tay của những công an và ô dù bao che của hệ thống còn đảng còn mình, cũng như hệ thống pháp lý nằm trong tay những đảng viên. Những cái chết oan khiên, đa phần đã bị hệ thống cho chìm xuồng, hoặc dừng lại ở màn khởi tố và sau đó cho vào quên lãng, chìm xuồng bởi sự im lặng của báo chí lề đảng.
Cho đến nay chỉ có 2 trường hợp được đưa ra xét xử. Trường hợp thứ nhất là tên Nguyễn Thế Nghiệp nhận án 7 năm tù giam khi giết chết anh Nguyễn Văn Khương tại Bắc Giang. Trường hợp thứ hai là tên trung tá công an Nguyễn Văn Ninh đã giết chết ông Trịnh Xuân Tùng tại Hà Nội.
Cả hai trường hợp này việc xét xử phải được tiến hành vì áp lực của dư luận.
*
20/11/2009: anh Nguyễn Mạnh Hùng (33 tuổi) đã qua đời dưới bàn tay của công an sau khi các "chiến sỹ nhân dân còn đảng còn mình" tại quận Hà Đông, Hà Nội đến triệu tập anh nói rằng "nhờ chút việc". 10 ngày sau gia đình anh nhận thông báo từ Công an Hà Đông rằng anh đã chết. Cha anh ông Nguyễn Xuân Bình cho biết còn đau đớn gấp ngàn lần hơn thế khi kinh hoàng trông thấy xác con. Toàn bộ thân thể khô đét lại. 10 đầu ngón tay chân bầm tím... Từ 1/3 đùi trở xuống đến bàn chân phù nề và thâm tím".
http://vnexpress.net/gl/phap-luat/2010/03/3ba196ec/
Ông Nguyễn Xuân Bình (70 tuổi, ở quận Hà Đông, Hà Nội) gửi đơn thư đi nhiều nơi mong nhận được trả lời thỏa đáng về nguyên nhân tử vong trong khi bị giam giữ của đứa con trai duy nhất.
Phía công an Hà Đông cho rằng "không có chuyện dùng nhục hình, bức cung hay đánh đập can phạm", nhưng lại từ chối giải thích vì sao lại có những dấu vết "lạ" trên cơ thể anh Hùng, dù họ khẳng định lúc bị bắt những vết thâm tím này không hề có. Vụ việc này đến nay vẫn chưa có câu trả lời.
http://vnexpress.net/gl/phap-luat/2010/03/3ba196ec/


*
21/1/2010: Anh Nguyễn Quốc Bảo bị công an quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, đánh chết. Nguyên nhân trực tiếp gây tử vong cho anh Bảo là chấn thương sọ não mức độ nặng do tác động của vật tày có giới hạn gây vỡ nền sọ...
Ngâm vụ việc cho đến hơn 1 năm sau, ngày 30/09/2011, cơ quan điều tra VKSND Tối cao kiến nghị Giám đốc Công an Hà Nội "tổ chức kiểm điểm, xử lý kỷ luật" với vi phạm của 6 cán bộ liên quan vụ việc. Kết quả xử lý, rút kinh nghiệm thông báo về VKSND Tối cao. Kết luận: xem như chìm xuồng. Đến nay, cha nạn nhân này vẫn tiếp tục gửi đơn kêu cứu khắp nơi.
http://laodong.com.vn/Home/Trong-khi-bi-cong-an-tam-giu-Nan-nhan-chet-do-bi-danh-vao-dau/20103/178879.laodong
http://vnexpress.net/gl/phap-luat/2011/10/de-nghi-ky-luat-6-cong-an-trong-vu-de-chet-nguoi-tai-tru-so/
*
7/5/2010: anh Võ Văn Khánh (SN 1981, ngụ Đại An, Đại Lộc, Quảng Nam) bị chết trong đồn công an. Kết luận của công an là "tự tử bằng dây buộc giày". Theo thông báo của tổ pháp y với gia đình, xương sườn anh Khánh bị đứt là do vết mổ cũ, còn bên trái xương sườn có vét bầm đen là do quá trình sơ cấp cứu.
Ngoài ra, khi phẫu thuật phía dưới vai trái anh Khánh, tổ pháp y cũng phát hiện có máu bầm tím. 8-5, công an huyện Điện Bàn đưa xác anh Khánh về cho gia đình ở Điện An kèm theo một phong bì 10 triệu đồng.
Cho đến nay vẫn không có tin tức gì thêm về vụ việc này.
http://vtc.vn/print/247190/index.htm
http://www.baomoi.com/Vu-mot-thanh-nien-chet-tai-phong-tam-giam-Tiep-tuc-kham-nghiem-tu-thi-de-tim-nguyen-nhan/141/4245225.epi
*
25/5/2010: em Lê Xuân Dũng (12 tuổi, vừa học xong lớp 6, Trường THCS Tĩnh Hải), anh Lê Hữu Nam (43 tuổi, trú tại thôn Trung Sơn) bị công an bắn chết khi người dân xã Tĩnh Hải tập trung tại khu vực thi công san lấp mặt bằng dự án lọc hóa dầu Nghi Sơn ngăn cản không cho các thiết bị máy móc, xe ôtô chở đất đá hoạt động. Đến nay vụ việc này đã bị cho chìm xuồng.
http://www.baomoi.com/Thanh-Hoa-Sung-no-o-KKT-Nghi-Son-3-nguoi-bi-chet-va-bi-thuong/141/4323459.epi
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Latest-development-in-nghi-son-incident-TQuang-06102010131756.html
*
29/6/2010: anh Vũ Văn Hiền (40 tuổi) tử vong trong tay công an. Theo lời công an nói với bác sĩ, nạn nhân phải đi cấp cứu do "tự lao đầu vào tường". Người giám sát việc mổ tử thi cho hay, nạn nhân bị đa chấn thương rất nặng: Đỉnh đầu có hai vết tụ máu, vỡ xương hàm trái, thái dương trái bị rạn xương sọ, phổi tụ máu, gãy 4 chiếc xương sườn, gẫy cẳng xương tay trái.
http://phapluatvn.vn/channel/4757/201007/Mot-cong-dan-tu-vong-sau-khi-roi-tru-so-cong-an-1975938/
Ngày 1.12, cơ quan điều tra, viện KSND tối cao đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với ông Hạ Kim Quý, trung tá công an, nguyên đội trưởng đội quản giáo, công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên về hành vi “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Các can phạm Lê Văn Hiếu, Nguyễn Quý Thương trong đó Lê Văn Hiếu đã nhiều lần đánh anh Vũ Văn Hiền khiến Hiền bị đa chấn thương, xuất huyết não, nhồi máu phổi bị tạm giam. Không có thêm tin tức gì về vụ việc này và kết quả khởi tố.
http://www.baomoi.com/Thai-Nguyen-mot-trung-ta-cong-an-bi-khoi-to/58/5300793.epi
*
3/7/2010: anh Toma Nguyễn Thành Năm, giáo dân xứ Cồn Dầu đã bị công an Đà Nẵng bắt bớ, đánh đập thả về và sau đó bị dân phòng đánh đến chết trong vụ CA giải tỏa nghĩa trang Cồn Dầu. Phía nhà nước cho rằng anh Năm chết vì bị "đột quỵ" Cho đến bây giờ cái chết của anh Nguyễn Thành Năm vẫn là một cái chết oan ức và những kẻ sát nhân còn đảng còn mình vẫn nhởn nhơ đứng trên pháp luật.
*
23/7/2010: anh Nguyễn Văn Khương, sinh năm 1989, quê thôn Như Thiết, xã Hồng Thái, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang bị tử thương.
Chiều 4/8/2010, Viện khoa học hình sự kết luận nguyên nhân cái chết của anh Khương được xác định là do não bị tụ máu dưới màng mềm được hình thành do có ngoại lực lớn tác động trực tiếp.
Liên quan đến vụ án này đã có quyết định tạm đình chỉ công tác 4 cán bộ công an huyện Tân Yên là: Ngô Văn Đỗ, Hoàng Văn Thái, Nguyễn Thế Nghiệp và Diêm Đăng Quyết để điều tra vụ việc.
Kết quả cuối cùng Nguyễn Thế Nghiệp nhận án 7 năm tù giam về tội "Làm chết người trong khi thi hành công vụ".
http://vietnamnet.vn/tinnhanh/201008/Bac-Giang-cong-bo-nguyen-nhan-chet-nguoi-tai-tru-so-CA-927313/
*
8/8/2010: anh Trần Duy Hải (32 tuổi, phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ) chết trong đồn công an huyện Châu Thành A, Hậu Giang. Theo lời của công an thì anh Hải đã "dùng áo sơ-mi dài tay treo cổ trên khung cửa sổ buồng tạm giam để tự sát".
http://www.baomoi.com/Ve-viec-doi-tuong-Tran-Duy-Hai-chet-trong-Trai-tam-giam-Cong-an-Hau-Giang/104/4715607.epi
http://danviet.vn/11511p1c33/hau-giang-mot-nguoi-dan-chet-tai-tru-so-cong-an.htm
*
9/9/2010: ông Trần Ngọc Đường (52 tuổi, ngụ ấp Trung Tâm, xã Thanh Bình) đã chết sau khi làm việc với công an xã Thanh Bình, huyện Trảng Bom - Đồng Nai. Công an nói ông Đường chết "do treo cổ", nhưng người nhà ông Đường cho rằng chuyện đó khó có thể xảy ra vì ông chết trong tư thế ngồi co, hai tay chống vào tường nhà, cách đó 2 m là chiếc mũ, điếu cày và quần tây của ông được xếp ngăn nắp. “Chết trong tư thế ngồi thì làm sao gọi là thắt cổ được. Qua quan sát bằng mắt thường, tôi không thấy dấu hiệu cha tôi chết do treo cổ”. Vụ việc này đã bị chìm xuồng.
http://www.baomoi.com/Cong-an-xa-thieu-sot/104/4857207.epi
*
6/3/2011: anh Nguyễn Lập Phương (sinh 1965, ở thôn 3, xã Thiên Hương, Thủy Nguyên, Hải Phòng) sau 4 ngày bị giam giữ đã được đưa từ đồn công an huyện Thủy Nguyên đến bệnh viện và tử vong. Thượng tá Võ Xuân Trọng, phó Trưởng Công an huyện Thuỷ Nguyên cho biết: Do thấy đối tượng Nguyễn Lập Phương có dấu hiệu bất thường về sức khoẻ nên cho đi cấp cứu, lên viện thì chết. Kết quả giám định ban đầu cho thấy nạn nhân chết vì bệnh tim. Anh Nguyễn Trung Trực (SN 1983), em trai anh Nguyễn Lập Phương cùng người nhà có mặt tại nhà xác BV Thuỷ Nguyên, chứng kiến thi thể anh Phương có nhiều vết bầm tím trên 2 tay, dọc hai bên sườn, chân, cằm và ngực bầm tím, hai mi mắt và hai bên tai có vết rách khoảng 2 cm.
http://www.anhp.vn/VN/TrangChu/TinTuc/AnNinhXaHoi/2011/3/18/19500/
http://tintuc.xalo.vn/00136749745/Nhung_nghi_ngo_ve_cai_chet_cua_mot_nghi_pham_trom_cau.html


*
8/3/2011: Ông Trịnh Xuân Tùng đã qua đời tại bệnh viện Việt Đức sau khi bị đánh vào lúc 10 giờ ngày 28/2/2011. Hung thủ là trung tá công an Nguyễn Văn Ninh (SN 1958, công tác tại Công an phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội) đã dùng dùi cui đánh ông Tùng gãy cổ vì không đội mũ bảo hiểm.
http://www.tienphong.vn/Phap-Luat/529738/Bi-danh-gay-co-vi-khong-doi-mu-bao-hiem.html


Theo đơn tố cáo của con gái ông Tùng là Trịnh Kim Tiến, sau khi cùng với một số dân phòng khác đánh đấm, dùng chân đá thúc vào bụng, Nguyễn Văn Ninh đã khoá trái tay ông Tùng và đưa ông Tùng về đồn, không cho gia đình vào cho ăn, bắt phải nhịn đói. Ông Tùng vừa kêu rên đau đớn, vừa van xin được uống nước và được đi khám, gia đình cũng van xin cho bố tôi đi khám nhưng người công an trực ban lúc đó và người sau đến thay ca nhất quyết không cho ông Tùng uống nước, không cho gia đình đưa nạn nhân đi khám. Các công an trực ban còn quát “ông ấy không làm sao hết, ông ấy giả vờ đấy...”
(http://danlambaovn.blogspot.com/2011/04/on-to-cao-va-e-nghi-khan-thiet-cua-co.html)
Phiên tòa xử Nguyễn Văn Ninh sẽ xảy ra vào 8 giờ 30 phút, thứ 6 ngày 13/01/2012 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội – số 43 phố Hai Bà Trưng, Hà Nội.
*
30/3/2011: ông Trần Văn Dữ (44 tuổi, ngụ tại ấp 3, thị trấn Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng) bị vỡ gan và lách gây tụ máu bầm trong ổ bụng dẫn đến tử vong sau khi bị công an bắt. Ông được người dân phát hiện nằm chết ở gần đồn công an sau đó. Hung thủ là Thượng úy Võ Văn Út Đèo, Phó trưởng công an thị trấn Ngã Năm, huyện Ngã Năm (tỉnh Sóc Trăng), Thượng sĩ Danh Nhãn và trung sĩ Trần Văn Khải, công an thị trấn Ngã Năm.
http://dantri.com.vn/c36/s20-471789/khoi-to-vu-an-gay-thuong-tich-dan-den-chet-nguoi.htm
Tháng 9/2011 Báo Dân Trí đưa tin: Truy tố 3 công an đánh người tử vong
Theo Viện KSND tỉnh Sóc Trăng, trong vụ án này, Thượng úy Đèo đã thiếu trách nhiệm, để cho cấp dưới đánh ông Dữ khiến ông này bị chấn thương nặng; thậm chí khi ông Dữ bị lâm nguy lại ra lệnh cho thuộc cấp mang ra bỏ ngoài khuôn viên đơn vị cho đến chết. Hành vi này trái với đạo đức nghề nghiệp nên Đèo cũng là đồng phạm với Nhãn, Khải và Thắng.
http://dantri.com.vn/c20/s170-514526/truy-to-3-cong-an-danh-nguoi-tu-vong.htm
Không có thêm tin tức gì về vụ án này.
*
25/04/2011: anh Nguyễn Công Nhựt bị chết trong trụ sở CA huyện Bến Cát (Bình Dương) sau 5 ngày bị bắt giữ trái pháp luật. Chị Nguyễn Thị Thanh Tuyền, vợ anh Nhựt, đau đớn mô tả: trên cơ thể anh Nhựt có nhiều vết đánh đập, máu chảy rất nhiều, cả chân và tay nạn nhân đều có vết chích điện. Đặc biệt, trên cổ nạn nhân bị thắt chặt bởi một đoạn dây rất cứng, phía CA cho biết đó là dây điện thoại và lý do anh Nhựt chết trong đồn CA: tự vẫn.
Ngoài việc dàn dựng chuyện anh Nhựt tự tử bằng dây điện thoại (!), công an Bến Cát còn giả thủ bút của anh để nói rằng "anh Nhựt cũng đã viết cam kết tự nguyện ở lại trụ sở Công an huyện Bến Cát chứ không phải bị bắt giữ".
Sau hơn 7 tháng khiếu nại khắp nơi, gia đình và người thân của nạn nhân vẫn chưa có câu trả lời chính thức từ phía cơ quan đại diện pháp luật.
http://nld.com.vn/20110426062224594p0c1019/thu-tuyet-menh-cua-nguoi-chet-o-tru-so-cong-an.htm


*
8/8/2011: anh Trần Gòn (27 tuổi, thị trấn Khánh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận) bị công an đánh trọng thương, phải cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Ninh Thuận vào ngày 8/8 và chết tại bệnh viện tối cùng ngày.
Khi đến trụ sở CA phường Mỹ Hải, anh Trần Gòn vẫn bình thường, không bị thương tích. Nhưng đến khoảng 14 giờ cùng ngày, anh được đưa từ Công an P.Mỹ Hải đi cấp cứu với nhiều vết thương và tử vong tại bệnh viện.
Hung thủ là thượng sĩ công an Lê Khắc Sáu bị tạm giam 2 tháng để phục vụ điều tra vì bị nghi đánh người tử vong.
Chiều 14-8, thiếu tướng Huỳnh Thế Kỳ - giám đốc Công an Ninh Thuận - cho biết vừa ra quyết định khởi tố vụ án cố ý gây thương tích dẫn đến hậu quả chết người, khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với thượng sĩ Lê Khắc Sáu. Không có thêm thông tin về vụ này.
http://www.baomoi.com/Mot-Thuong-si-cong-an-vi-pham-quy-trinh-lam-chet-nguoi/104/6812357.epi


*
Công lý của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam dưới sự toàn trị và giành quyền độc tôn lãnh đạo của đảng CSVN đã và đang tiếp tục bị chà đạp. Sẽ còn bao nhiêu cái gọi là tự tử trong đồn, tự tử bằng dây chiếu, bằng dây điện thoại... Sẽ còn bao nhiêu cái chết oan khiên nữa nếu chúng ta tiếp tục im lặng!?


Dân Làm Báo
danlambaovn.blogspot.com
by LTSA

Về hình thức “công hàm Phạm Văn Đồng” chẳng khác gì một công án thiền, chỉ 121 chữ với nội dung đơn giản nhưng làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực, phân tích, bàn thảo và làm ngưng chảy dòng nhận thức của mọi người mỗi khi nhắc đến.

Huyền bí hơn nữa, “công hàm” là một tài liệu có thật và là cây gai trong mắt của những người quan tâm đến vận mệnh đất nước, nhưng trong bao nhiêu lần “xác định chủ quyền Việt Nam trên các đảo Hoàng Sa, Trường Sa” giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam không hề nhắc đến, tưởng chừng như văn bản đó không phải là của họ. Sự im lặng phải có lý do, bởi vì nếu chỉ là vấn đề biển đảo, lãnh đạo đảng đã giải thích từ lâu rồi đâu cần đợi ai nhắc nhở.

Trước khi bàn đến “công hàm” mới, phải nhắc lại vài chuyện về “công hàm” cũ.

Ngày ngày 4 tháng 9 năm 1958, Quốc hội Trung Quốc ra tuyên bố hai điểm, điểm thứ nhất có liên hệ trực tiếp đến lãnh thổ Việt Nam gồm Tây Sa tức Hoàng Sa và Nam Sa tức Trường Sa. Đáp lại lời tuyên bố này, ngày 14 tháng 9 năm 1958, Phạm Văn Đồng, Thủ tướng CSVN đã gởi cho Thủ tướng Chu Ân Lai một công hàm “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc”.

Ngày 22 tháng Chín năm 1958, công hàm đã được đăng trên báo Nhân dân để toàn Đảng, toàn dân và toàn thế giới biết hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc. Những ai trước nay nghĩ rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam vì đọc Phủ Biên Tạp Lục của học giả Lê Quý Đôn hay Đại Nam Thực Lục của triều Nguyễn v.v… không những là một sai lầm lịch sử mà còn đi được lại quyết định của Đảng. Ngày 19 tháng Giêng năm 1974, hải quân Trung Quốc tấn công quần đảo Hoàng Sa. Sau những trận hải chiến không cân sức, hải quân Việt Nam Cộng Hòa triệt thoái khỏi Hoàng Sa. Từ đó, quần đảo thân yêu này nằm trong tay giặc.

Khi quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc trở nên tồi tệ sau năm 1975 vấn đề chủ quyền Hoàng Sa Trường Sa được đưa ra. Đặc biệt sau chiến tranh biên giới lần thứ nhất năm 1979, Việt Nam ra bạch thư về chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo này với nhiều bằng chứng và tài liệu lịch sử Việt Nam cũng như quốc tế. Phản ứng về phía Trung Quốc, ngoài việc dẫn chứng các “tài liệu lịch sử” riêng của mình, họ còn dựa vào công hàm Phạm Văn Đồng để cho rằng Việt Nam chính thức thừa nhận hai quần đảo là của Trung Quốc từ năm 1958. Trung Quốc còn cho biết ngay trong các sách giáo khoa địa lý bậc trung học trước năm 1975 tại miền bắc Việt Nam cũng đã xác định Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc, và ngoài ra, thứ trưởng ngoại giao Việt Nam Ung Văn Khiêm cũng lập lại điều này khi tiếp tham vụ tòa đại sứ Trung Quốc Li Zhimin.

Một làn sóng công phẫn trong các tầng lớn nhân dân, trước năm 1975 chỉ phát xuất từ miền nam, đã bắt đầu dấy lên trong vài ngoài nước. Nhưng cùng lúc với những chê trách, giận dữ, kết án, nhiều quan điểm cũng được đưa ra như một cách mách nước cho đảng để tháo gỡ chiếc vòng kim cô đảng tự đặt lên đầu từ năm 1958.

Cách gỡ rối thứ nhất cho rằng công hàm không có giá trị pháp lý vì một quyết định vô cùng quan trọng như thế phải được quốc hội thông qua.

Cách gỡ rối thứ hai cho rằng Trung Quốc đã xuyên tạc nội dung công hàm vì công hàm của Phạm Văn Đồng không đề cập đến Hoàng Sa và Trường Sa.

Cách gỡ rối thứ ba cho rằng công hàm Phạm Văn Đồng “chỉ là thiện chí của Việt Nam ủng hộ Trung Quốc trong việc tranh chấp với Mỹ về an ninh ở vùng biển gần Đài Loan”.

Cách gỡ rối thứ tư cho rằng theo nội dung hội nghị Geneva, Hoàng Sa, Trường Sa đã thuộc về phía Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia có chủ quyền, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ trong khuôn khổ của hiệp định Geneva.

Cả bốn cách gỡ rối đều không vững.

Vấn đề có thông qua hay không thông qua, vi phạm hay không vi phạm hiến pháp Việt Nam là vấn đề riêng của Việt Nam. Thực tế quốc hội chỉ là cơ quan đóng dấu tại các quốc gia Cộng Sản đã được quốc tế thừa nhận. Tổng thống Gerald Ford ký thông cáo chung về thỏa hiệp SALT với Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev tại Vladivostok năm 1974 mặc dù thời điểm đó Chủ tịch Sô Viết Tối Cao là Nikolai Podgorny. Ngày 29 tháng Giêng năm 1979 Tổng thống Jimmy Carter ky thỏa hiệp bình thường hóa các quan hệ kỹ thuật, kinh tế, thương mại với Đặng Tiểu Bình mặc dù chức vụ của họ Đặng chỉ là một phó thủ tướng. Dưới chế độ Cộng Sản, mọi văn bản quan trọng đều phải thông qua bộ chính trị, cơ quan quyền lực tối cao. Phạm Văn Đồng, ủy viên Bộ chính tri, đóng vai thủ tướng chính phủ nên phải ký công hàm. Thời điểm tháng 9 năm 1958, danh sách bộ chính trị được bầu ra trong Đại hội lần II năm 1951 cũng như được bổ túc trong những năm sau đó gồm Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Hoàng Văn Hoan.

Lý luận cho rằng Trung Quốc đã xuyên tạc nội dung công hàm Phạm Văn Đồng vì công hàm không đề cập đến Hoàng Sa và Trường Sa lại càng yếu hơn. Báo Đại Đoàn Kết phát hành 20/07/2011 viết: “Trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu”. Cãi như báo Đại Đoàn Kết là một cách tự kết án mình vì lời tuyên bố của phía Trung Quốc ghi rõ: “Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ (Penghu), quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc” và Việt Nam phấn khởi đáp ứng bằng cách “ghi nhận và tán thành” toàn văn bản.

Lý luận cho rằng Việt Nam chỉ bày tỏ “thiện chí của Việt Nam ủng hộ Trung Quốc trong việc tranh chấp với Mỹ về an ninh ở vùng biển gần Đài Loan. Trung Quốc đã phản bội Việt Nam khi dùng công hàm đó để chủ trương chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa” do một nhóm 14 tác giả ký trong kiến nghị gởi đảng Cộng Sản Việt Nam cũng không thuyết phục. Việt Nam tự đưa cổ vào tròng chứ không phải Trung Quốc đặt tròng vào cổ Việt Nam. Bản tuyên bố của phía Trung Quốc không chỉ nhằm xác định chủ quyền trên các đảo Đài Loan mà cả các nhóm đảo khác trong đó có Hoàng Sa (tên tiếng Tàu là Tây Sa) và Trường Sa (tên tiếng Tàu là Nam Sa), và công hàm của Phạm Văn Đồng cũng không chỉ nhắm vào Đài Loan mà ủng hộ toàn bộ lời quyết định về hải phận của Trung Quốc. Không một quan tòa quốc tế nào trình độ sơ đẳng đến mức đánh giá hai văn bản một cách độc lập với nhau.

Lý luận khác nữa dựa vào hiệp định Geneva, tuyên cáo của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa công bố ngày 14 tháng Hai năm 1974 xác định chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như Bạch thư của Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa đầu năm 1975 để bác bỏ giá trị pháp lý của công hàm Phạm Văn Đồng. Phạm Văn Đồng không thể công nhận những gì không thuộc lãnh thổ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Đây là lý luận có cở sở pháp lý nhất và có thể dùng để biện luận trong các hội nghị quốc tế, rất tiếc Việt Nam Cộng Hòa không còn hiện diện, về mặt công pháp quốc tế Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được xem như giữ quyền tài phán.

Một người Việt Nam nào có chút quan tâm về đất nước cũng có lần tự hỏi tại sao lãnh đạo đảng ngày đó sơ sót đến mức như vậy?

Phải chăng vì thời điểm đó “tình hữu nghị Việt – Trung đang thắm thiết và hai nước hoàn toàn tin cậy lẫn nhau” như ông Nguyễn Mạnh Cầm phát biểu?

Phải chăng vì thời điểm đó, đảng phải tập trung vào chiến tranh “chống Mỹ cứu nước” như chính tác giả Phạm Văn Đồng phân trần?

Không, họ chẳng những không sơ sót, không chọn lựa khó khăn nhưng hành động bằng cả nhiệt tình. Trong quan điểm của đảng, công hàm Phạm Văn Đồng phản ảnh mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài của đảng CSVN. Việc chọn lựa đảng trên đảo, đặt lý tưởng Cộng Sản trên quyền lợi dân tộc là một chọn lựa tự nhiên, khách quan, hoàn toàn phù hợp với hướng phát triển cách mạng xã hội chủ nghĩa. Sự nô lệ vào tư tưởng Cộng Sản bao trùm lên mọi lãnh vực đời sống của xã hội miền bắc.

Tưởng cũng cần nhắc lại, thời điểm năm 1958 còn là thời điểm nóng bỏng giữa Trung Quốc và Mỹ về vấn đề Đài Loan. Mỗi ngày, pháo binh Trung Quốc bắn hàng trăm viên đại bác vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ. Như Mao tiết lộ với Khrushchev sau này, y không có ý định “giải phóng” Đài Loan. Việc bắn phá Đài Loan chỉ là thái độ của kẻ “ăn không được phá cho hôi” để thỏa lòng căm hận. Thời điểm năm 1958 vấn đề chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa chưa phải là mối bận tâm hàng đầu của Trung Quốc, tuy nhiên những người soạn thảo bản công bố chủ quyền biển của Trung Quốc đã biết phòng xa. Việt Nam thì không. Việt Nam cũng có nhiều cách để làm hả dạ đàn anh Trung Quốc mà vẫn giữ được chủ quyền đất nước và cách dễ nhất là viết, gạch đít, đóng khung, tô màu hai chữ Đài Loan trong văn bản. Giới lãnh đạo đảng đã không làm điều đó.

Nửa thế kỷ trước, cả bộ chính trị lẫn trung ương đảng CSVN viễn du trong giấc mộng về một thiên đường quốc tế vô sản, trong đó con người mang quốc tịch Trung Hoa hay Việt Nam cũng không mấy khác nhau. Trung Quốc có chiếm Hoàng Sa cũng chẳng qua là giữ giùm cho Việt Nam, tốt hơn là để cho Mỹ chiếm. Nói ra như một chuyện cười nhưng đó là sự thật. Đảng Cộng Sản Việt Nam mang ơn đảng Cộng Sản Trung Quốc sâu đậm. Như hầu hết tài liệu quốc tế và cả tài liệu chinh thức của đảng, trong thập niên năm 1950, Việt Nam phụ thuộc vào Trung Quốc không những súng đạn, lương thực, chỉ huy, hậu cần, lãnh đạo mà cả tư tưởng và tinh thần. Điện văn của đảng Lao động Việt Nam gởi đảng Cộng Sản Trung Quốc sau hội nghị đảng lần thứ hai tháng 3 năm 1951 như Hoàng Văn Hoan nhắc lại trong hồi ký Giọt nước và biển cả: “Đảng Lao động Việt Nam nguyện noi gương anh dũng Đảng Cộng sản Trung Quốc, học tập tư tưởng Mao Trạch Đông, tư tưởng lãnh đạo nhân dân Trung Quốc và các dân tộc Á Đông trên con đường độc lập và tự chủ”.

Lịch sử chống ngoại xâm đầy hy sinh xương máu của tổ tiên ta để có một nắm đất xây lên đó một mái nhà tranh che nắng che mưa gọi là Việt Nam đối với lãnh đạo đảng là sản phẩm của tư duy phong kiến. Theo lý luận duy vật lịch sử, mỗi hình thái sản xuất có một thượng tầng kiến trúc chính trị, văn hóa, xã hội, nhân văn thích hợp, những gì của quá khứ đã thuộc về quá khứ. Trong quan điểm của đảng, các nỗ lực của tổ tiên ta nhằm ngăn chặn âm mưu đồng hóa của các triều đại Hán, Tấn, Tề, Lương, Tùy, Đường, Tống, Minh v.v. đều mang tính lịch sử, tính giai cấp chứ không phải tính văn hóa, tính truyền thống, xã hội xã hội chủ nghĩa sẽ tươi đẹp hơn, con người xã hội chủ nghĩa văn minh hơn và Trung Quốc sẽ đối xử với các nước nhỏ láng giềng bình đẳng trong tinh thần quốc tế vô sản chứ không phải bằng tinh thần đại Hán.

Mục đích căn bản của Ban nghiên cứu Lịch sử và địa lý Việt Nam được thành lập ngày 2 tháng 12 năm 1953 không phải nhằm tổng hợp các tài liệu lịch sử, địa lý Việt Nam mà để “Góp phần vào việc bồi dưỡng lý luận về chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối cách mạng của Đảng. Góp phần nâng cao tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản của nhân dân ta. Phê phán những quan điểm, tư tưởng phản động sai lầm. Phát triển giao lưu văn hóa, khoa học với các nước.” Với các mục đích phản ảnh tinh thần vong thân nô lệ như thế, không lạ gì từ trung ương đảng cho đến các chi bộ hạ tầng, từ các đại học cho đến các trường trung học phổ thông, từ các nhà văn cho đến nhà thơ, không một tài liệu nào cho thấy có một tiếng nói khác gióng lên hay một nhà nghiên cứu nào nêu lên thắc mắc. Việc Trung Quốc quả quyết sách giáo khoa địa lý tại miền bắc cũng đã xác định Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc không phải là không có căn cứ.

Trong Tuyển tập Mao Trạch Đông, họ Mao từng nhấn mạnh một cách hãnh diện chín chục phần trăm người Trung Hoa là gốc Hán, tuy nhiên, trong mắt lãnh đạo đảng CSVN, đám Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai không liên hệ huyết thống gì với đám Tô Định, Mã Viện, Lưu Long thời Tây Hán, một triều đại đã thực hiện các chính sách đồng hóa tổ tiên Việt Nam một cách tàn bạo đến nỗi sử gia Lê Văn Hưu phải thốt lên trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, bản gỗ khắc năm Chính Hòa 1697: “Xin trời vì nước Việt ta sớm sinh thánh nhân, tự làm đế nước nhà.”

Khai quật “công hàm Phạm Văn Đồng” không phải là đề xác nhận giá trị pháp lý của mảnh giấy lộn đó. Không một người, tổ chức, đảng phái nào có quyền sang nhượng lãnh thổ Việt Nam, nơi máu xương của bao nhiêu thế hệ đã thắm lên từng nắm đất. Quyết tâm bảo vệ đất nước qua lời thề Lũng Nhai, lời nguyền sông Hóa vẫn còn vang vọng. Thậm chí cho dù cái gọi là quốc hội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày đó có thừa nhận Hoàng Sa Trường Sa là của Trung Quốc đi nữa cũng chỉ là sự thừa nhận của một nhóm người, của một đảng độc tài cai trị dân tộc bằng nhà tù sân bắn chứ không phải đại diện cho tiếng nói của nhân dân Việt Nam.

Khai quật “công hàm Phạm Văn Đồng” để thế hệ trẻ Việt Nam thấy bộ mặt thật phía sau chiêu bài “giải phóng dân tộc” của các tầng lớp lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam. Đảng im lặng không phải vì đảng chưa nghĩ đến bốn cách gỡ rối nêu trên mà chỉ vì công hàm Phạm Văn Đồng là biểu tượng cho ý thức vong bản của một thế hệ lãnh đạo Cộng Sản đang được thần tượng hóa tại Việt Nam. Đám mây đen Cộng Sản đã che khuất lương tri và nhân tính Việt Nam trong con người họ. Giới lãnh đạo đảng không dám công khai tuyên bố hủy bỏ công hàm bởi vì làm như thế là thừa nhận sự u mê, bản chất phản quốc, phản dân tộc của đảng. Họ không đủ can đảm để nguyền rùa chính mình và ly khai với quá khứ của mình.

Khai quật “công hàm Phạm Văn Đồng” để những ai nghĩ rằng giới lãnh đạo CSVN đã nhận thấy hiểm họa Trung Quốc và chọn lựa đứng về phía Liên Xô để đưa đất nước tiến nhanh hơn trên đường công nghiệp hóa chưa hẳn là đúng. Theo Giáo Sư đại học Harvard Ezra F. Vogel trong tác phẩm Đặng Tiểu Bình và sự biến đổi Trung Hoa (Deng Xiaoping and the Transformation of China), việc Đặng Tiểu Bình đánh Việt Nam chỉ là chuyện bất đắc dĩ. Sự xáo trộn chính trị nội bộ của Trung Quốc trong thời gian ngắn trước và sau khi Mao chết với các thành phần cực tả khuynh loát quyền hành và bản thân y bị thanh trừng, đã đẩy Việt Nam về phía Liên Xô. Họ Đặng tin rằng nếu y lãnh đạo, với việc nắm vững chính trị Việt Nam và là người đã làm việc với hầu hết cấp lãnh đạo đảng CSVN từ Hồ Chí Minh đến Lê Duẩn, Việt Nam có thể vẫn còn trong vòng kiểm soát của Trung Quốc mà không cần súng đạn. Nếu quả đúng và đã diễn ra như Đặng Tiểu Bình phát biểu, Việt Nam hôm nay dù chưa thành một khu tự trị, cũng có thể đã là một nước nhỏ trong vòng một nước lớn Trung Hoa.

Khai quật “công hàm Phạm Văn Đồng” để thấy cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt, đế quốc Mỹ ra đi, đế quốc Liên Xô sụp đổ nhưng nợ máu xương giữa hai đảng Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam phải trả bằng thân xác của những người dân vô tội vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay. Cuộc chiến biên giới năm 1979 là một thất bại quân sự nhục nhã cho Đặng Tiểu Bình. Trung Quốc che giấu thất bại quân sự chua cay này bằng cách im lặng và ngăn chặn việc phổ biến dưới mọi hình thức các tài liệu có liên quan đến cuộc chiến. Zhou Xu Ke, một cựu chiến binh biên giới và tác giả của cuốc sách do ông tự in lấy Cuộc chiến cuối cùng trả lời hãng tin AFP: “Tại Trung Quốc, chính phủ tôn trọng lịch sử chẳng khác gì tôn trọng chó.” Về phía Việt Nam cũng chẳng tốt lành hơn. Máu của thanh niên Việt Nam đổ xuống để bảo vệ Lạng Sơn, Cao Bằng v.v… phát xuất từ lòng yêu nước trong sáng và xứng đáng được kính trọng nhưng khi cuộc cờ tàn, chẳng còn ai nhắc nhở đến máu xương đó nữa. Sau cuộc chiến tranh biên giới, Đặng Tiểu Bình đã thay đổi cấp lãnh đạo, phương hướng phát triển kinh tế và mở rộng ảnh hưởng đến các nước tư bản tự do; trong lúc đó giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam tự cô lập trong chuyên chính vô sản, lạc hậu trong thời bao cấp, tem phiếu, thu mua để rồi đưa đất nước đến thảm trạng nghèo đói tận cùng suốt thập niên năm 1980.

Sau khi Liên Xô sụp đổ, không còn ai che chỡ, giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam lại lần nữa tìm về nương náu dưới chiếc bóng của đàn anh Trung Quốc. Hội nghị bí mật tại khách sạn Kim Ngưu, Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên trong hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 giữa phía Việt Nam gồm Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh và phía Trung Quốc gồm Giang Trạch Dân và Lý Bằng thực chất là lễ cam kết một loại “công hàm Phạm Văn Đồng” khác. Cựu thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ phân tích một cách chi tiết các diễn tiến dẫn tới sự kiện Thành Đô trong hồi ký của ông ta. Không ai, ngoài Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười và Nguyễn Văn Linh, biết chính xác nội dung hội nghị bí mật Thành Đô nhưng qua thái độ nhu nhược và phản ứng yếu hèn của giới lãnh đạo CSVN trước các hành động chiếm đảo, bắn tàu, cắt dây cáp, giết người tàn nhẫn của hải quân Trung Quốc và mới đây bắt bớ hàng loạt người Việt gióng lên tiếng nói bất bình, cho thấy nội dung bán nước trong “công hàm Thành Đô” hẳn còn trầm trọng và chi tiết hơn cả “công hàm Phạm Văn Đồng”.

Trong lễ ký kết thỏa hiệp chiều ngày 7 tháng 11 năm 1991 tại Nhà khách Chính phủ Điếu Ngư Đài Bắc Kinh, Giang Trạch Dân không quên nhắc nhở đến các cam kết cũ và xác định phương pháp mới trong quan hệ Việt Trung như còn ghi lại trong Diễn Đàn Kinh Tế Việt Trung: “Hoan nghênh các đồng chí Việt Nam sang Trung Quốc hội đàm với chúng tôi. Các đồng chí là những người thuộc thế hệ lãnh đạo lão thành của Việt Nam, cũng là những người bạn lão thành quen biết của những người thuộc thế hệ lãnh đạo lão thành của Trung Quốc; điều đáng tiếc là đã mười mấy năm chưa được gặp nhau. Tôi và đồng chí Lý Bằng một hai năm gần đây tiếp nhận công tác của bậc tiền bối lão thành. Thật đúng là ‘trên sông Trường Giang, ngọn sóng sau đẩy ngọn sóng trước, trên đời lớp người mới thay lớp người cũ’. Nhưng chúng tôi hy vọng giữa Trung Quốc và Việt Nam có thể khôi phục mối quan hệ mật thiết giữa hai Đảng và hai nước do những người lãnh đạo thuộc thế hệ lão thành xây dựng nên.”

Tại sao lãnh đạo Trung Quốc chấp nhận sự quy phục của lãnh đạo CSVN? Bởi vì, (1) là thế hệ chứng kiến sự tranh giành quyền lực giữa các lớp đàn anh, Giang Trạch Dân biết tham vọng quyền lực đã hòa trong mạch sống, hơi thở, máu thịt của Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh và giới lãnh đạo CSVN, (2) không giống như thời Liên Xô chưa sụp đổ, lần này đảng CSVN không còn một con đường thoát nào khác, nhưng ba điểm sau quan trong hơn, (3) Việt Nam là hành lang chiến lược trong vùng Nam Á, (4) vào thời điểm 1990. đối tượng cạnh tranh của Trung Quốc không còn là Việt Nam mà là Mỹ, Đức, Nhật và (5) mục tiêu bành trướng của Trung Quốc cũng không phải chỉ là Hoàng Sa Trường Sa mà là cả vùng Thái Bình Dương.

Đọc hồi ký của Trần Quang Cơ để thấy mặc dù nhân loại sắp bước vào một thiên niên kỷ mới, nhận thức về chính trị và bang giao quốc tế của các lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam vẫn còn ngây thơ đến tội nghiệp làm sao. Năm 1990, khi Liên Xô và các nước Cộng Sản Đông Âu như những cánh bèo tan tác ngoài cửa biển mà các lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam vẫn còn nghĩ đến việc liên kết với Trung Quốc chống đế quốc Mỹ: “Các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng, Đồng Sĩ Nguyên còn nhấn vào âm mưu của đế quốc Mỹ sau cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Âu” và “Việt Nam và Trung Quốc là hai nước xã hội chủ nghĩa cùng chống âm mưu đế quốc xoá bỏ chủ nghĩa xã hội, phải cùng chống đế quốc.”

Cũng vào thời điểm này, Đặng Tiểu Bình đã viếng thăm và ký các thỏa hiệp kinh tế chính trị với các quốc gia tư bản như Mỹ (1979), Anh (1984) cũng như mở rộng hợp tác kinh tế với Đức vừa thống nhất và cựu thù Nhật Bản nhưng các lãnh đạo CSVN còn mơ mộng Trung Quốc sẽ thay mặt Liên Xô giương cao ngọn cờ quốc tế vô sản. Đặng Tiểu Bình không có mặt trong hội nghị bí mật Thành Đô dù phía Trung Quốc đã hứa một phần vì y chưa nguôi cơn giận chiến tranh biên giới nhưng phần khác cũng vì Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh không xứng đáng là đối tượng thảo luận trong tầm nhìn của y về tương lai Trung Quốc và thế giới, nói chi là số phận Việt Nam. Sau “công hàm Thành Đô” và tái lập quan hệ giữa hai đảng vào ngày 7 tháng 11 năm 1991, các lãnh đạo CSVN thay phiên nhau triều cống Trung Quốc. Lê Đức Anh sang Trung Quốc 28 tháng Giêng năm 1991, Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt sang Trung Quốc 5 tháng 11 năm 1991 và gần như hàng năm các lãnh đạo CSVN luân phiên nhau sang Trung Quốc để lập lại lời hứa phục tùng.

Sau khi đặt đảng CSVN trở lại trong vòng kiểm soát, ngày 25 tháng 2 năm 1992, Quốc vụ viện Trung Quốc thông qua “Luật Lãnh hải và vùng tiếp giáp” quy định lãnh hải rộng 12 hải lý, áp dụng cho cả bốn quần đảo ở Biển Đông trong đó có quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa). Ba tháng sau đó, ngày 8 tháng 5 năm 1992 Trung Quốc ký hợp đồng khai thác dầu khí với công ty năng lượng Crestone của Mỹ, cho phép công ty này thăm dò khai thác dầu khí trong thềm lục địa của Việt Nam, nằm ở phía Tây Nam của quần đảo Trường Sa. Trung Quốc cũng hứa với công ty Creston sẽ bảo vệ bằng võ lực nếu Việt Nam can thiệp vào công việc của họ. Ngoài các hoạt động khai thác dầu khí trong thềm lục địa Việt Nam, Trung Quốc còn ngang ngược ra lịnh cấm đánh cá, thành lập các đơn vị hành chánh cấp huyện tại Hoàng Sa và Trường Sa, và cho phép hải quân Trung Quốc bắn giết ngư dân Việt Nam vô tội không phải chỉ một lần mà rất nhiều lần. Các lãnh đạo Việt Nam, lo cho sự sống còn của đảng Cộng Sản, đáp lại bằng những lời than vãn gần như giống nhau sau những lần Trung Quốc xâm phạm chủ quyền.

Tại sao Trung Quốc không ngang ngược với Nhật Bản, Philippines, Malaysia, Brunei, những quốc gia đang tranh chấp chủ quyền Trường Sa? Bởi vì các quốc gia đó thật sự có chủ quyền chính trị, chính phủ trong sạch được bầu lên một cách hợp pháp, có nhân dân hậu thuẩn, có quốc tế kính trọng, có nhân loại cảm tình. Một chiếc tàu đánh cá treo quốc kỳ Nhật, quốc kỳ Phi làm hải quân Trung Quốc e dè, kiêng nễ trong lúc tàu đánh cá treo cờ đỏ sao vàng lại trở thành mục tiêu tác xạ. Thật vậy, với một bên quyết tâm trả thù cho “một trăm năm sỉ nhục” bằng chủ trương bành trướng khắp thế giới và một bên chỉ mong được tiếp tục đè đầu cởi cỗ chính đồng bào mình, lãnh đạo Trung Quốc rất yên tâm vì họ biết rõ, ngày nào đảng Cộng Sản còn cai trị nhân dân Việt Nam, ngày đó Trung Quốc còn chi phối đượcViệt Nam.

Nicholas D. Kristof và Sheryl Wudunn, đồng tác giả của Trung Hoa thức dậy (China Wakes: The Struggle for the Soul of a Rising Power) nhận xét rằng xung đột có khả năng cao nhất sẽ dẫn đến chiến tranh tại Á Châu là xung đột về các quần đảo trong biển đông. Vì đặc điểm địa lý chính trị, chiến lược quân sự và là quốc gia duy nhất trong số các quốc gia tranh chấp đã trực tiếp hy sinh xương máu trên hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam được hầu hết các nhà phân tích nhận xét sẽ là điểm xuất phát của một cuộc tàn sát chưa từng thấy ở Á Châu.

Để đối phó với một Trung Quốc đầy tham vọng, hầu hết các quốc gia có quyền lợi trong vùng như Nam Dương, Mã Lai, Philippines đang làm mọi cách để phát triển kinh tế, tăng cường khả năng quốc phòng hầu ngăn chận bàn chân Trung Quốc. Các chính trị gia bảo thủ Nhật Bản kêu gọi sửa đổi hiến pháp để cho phép nước Nhật tái trang bị. Sự thay đổi chính sách của Miến Điện cụ thể qua việc ngưng công trình đập do Trung Quốc hậu thuẩn hồi tháng Chín năm 2010 và mở rộng hợp tác với Mỹ qua chuyến thăm viếng của Ngoại trưởng Hillary Clinton lần đầu trong nửa thế kỷ cho thấy một tập đoàn quân phiệt bị thế giới lên án cũng đã biết “buông dao đồ tể”. Ngay cả Brunei, một quốc gia có dân số vỏn vẹn 400 ngàn cũng đang hiện đại hóa các phi đoàn trực thăng chiến đấu bằng Blackhawk. Giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ biết nuốt nhục để sống. Ngoài những lời tuyên bố về chủ quyền lấy lệ và những thay đổi quốc phòng giới hạn, họ không làm gì cụ thể hơn để đáp ứng với hiểm hoạ chiến tranh lớn nhất trong lịch sử Á Châu sắp xảy ra ngay trên lãnh thổ Việt Nam.

Học sinh các lớp sử thường đọc Mạc Đăng Dung đã cắt đất Vĩnh An, An Quảng gồm 6 động dâng cho nhà Minh để thuộc vào Châu Khâm như đã ghi Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Sự kiện đó chưa hẳn đúng vì Việt Sử Thông Giám Cương Mục viết “Nay xét Khâm Châu chí của nhà Thanh, chỉ thấy chép đời Gia Tĩnh (1522 – 1566 ), Đăng Dung nộp trả năm động Ti Phù, La Phù, Cổ Sâm, Liễu Cát và Kim Lặc mà thôi, chứ không thấy nói đến động An Lương. Lại tra cứu đến Quảng Yên sách thì động An Lương hiện nay là phố An Lương thuộc châu Vạn Ninh nước ta.” Mạc Đăng Dung, trong hoàn cảnh hai đầu đều có địch, buộc phải trả lại năm động vốn là đất của Trung Hoa chứ chẳng dâng hiến phần đất nào thuộc lãnh thổ Việt Nam mà còn cứu được đất nước khỏi lâm vào vòng lệ thuộc ngoại bang. Dù sao, trong lúc “công hàm Mạc Đăng Dung” có thể có lý do tranh luận, tội bán nước trong “công hàm Phạm Văn Đồng” quá hiển nhiên, rõ ràng và chính tác giả khi còn sống cũng đã thừa nhận mình đã ký.

Trước đây sử gia Lê Văn Hưu đã thốt lên câu đứt ruột trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: “Xin trời vì nước Việt ta sớm sinh thánh nhân, tự làm đế nước nhà”. Nếu sử gia sống trong thời đại này, hẳn ngài sẽ đổi thành “Xin trời vì nước Việt ta sớm đánh thức nhân dân để họ biết đứng lên, tự làm chủ nước nhà.” Bởi vì lịch sử đã chứng minh, không ai có thể cứu được dân tộc Việt Nam ngoài chính dân tộc Việt Nam. Vó ngựa quân Mông Cổ sải từ Á sang Âu, chiếm gần 20 phần trăm trái đất, đốt cháy thành than các thủ đô Kiev, Budapest, Baghdad, Bắc Kinh, vượt qua các sông Hoàng Hà, Volga, Danube nhưng đã phải dừng lại bên sông Bạch Đằng, Việt Nam. Kẻ thù thắng nhiều trận nhưng dân tộc Việt Nam luôn thắng trận cuối cùng và quyết định. Hơn ai hết, giới lãnh đạo Trung Quốc phải thuộc bài học đó.

Như kẻ viết bài này đã viết trước đây trong tiểu luận “Ai giết 9 ngư dân Thanh Hóa?” một Việt Nam văn minh dân chủ với một nền kinh tế cường thịnh, một hệ thống khoa học kỹ thuật hiện đại là phương tiện hữu hiệu nhất để ngăn chận không những Trung Quốc mà bất cứ một thế lực xâm lăng nào muốn thách thức đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Nếu không làm được thế, không chỉ Hoàng Sa, Trường Sa, mà cả dân tộc lại sẽ chìm đắm trong họa đồng hóa của thời đại mới. Và khi đó, đừng đổ thừa cho Trung Quốc mà chính sự khiếp nhược, ươn hèn, mê muội trong mỗi chúng ta đã giết chết chính mình và dân tộc mình.

Trần Trung Đạo
by LTSA

Ủy ban Liên chính phủ ASEAN về Nhân quyền phủ nhận tố cáo cho rằng họ làm việc trong vòng bí mật.

Theo tường thuật hôm thứ Ba của tờ Phnom Penh Post, ủy ban gọi tắt là AICHR, có nhiệm vụ soạn thảo bản Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN đầu tiên, đã gặp phải sự chỉ trích của các tổ chức nhân quyền.

Các tổ chức này e rằng tuyên ngôn sẽ thiếu tính chất thỏa đáng nếu được hình thành mà không có sự tham khảo ý kiến đầy đủ của các bên có quyền lợi và quan tâm.

Phát biểu hôm thứ Hai vào lúc kết thúc hội nghị đầu tiên của AICHR ở Siem Reap, ông Chet Chealy, Chủ tịch Trung tâm Campuchia-ASEAN về Phát triển Nhân quyền, nói rằng “chúng tôi không hề hoạt động đằng sau một bức tường bí mật.”

Ông Chealy nói thêm rằng ủy ban này cam kết sẽ hoàn tất Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN trong năm nay và hiện giờ đã có bản phúc trình chót của ủy ban soạn thảo để nộp cho các vị bộ trưởng ngoại giao ASEAN.

Hội nghị không chính thức của các bộ trưởng ngoại giao ASEAN đang được tổ chức ở Siem Reap từ ngày 10 đến ngày 12 tháng 1.

Theo ông Om Yintieng, Chủ tịch Ủy ban Nhân quyền Campuchia, sau khi được hoàn tất, bản sơ thảo Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN sẽ được mang ra thảo luận công khai hai lần với sự tham dự của các tổ chức xã hội dân sự.

Hồi cuối tuần qua, Hội Ân xá Quốc tế và Trung tâm Nhân quyền Campuchia đã lên tiếng yêu cầu Ủy ban Liên chính phủ ASEAN về Nhân quyền phải bảo đảm rằng việc thảo luận về bản tuyên ngôn nhân quyền phải có tính chất minh bạch, công khai và bao gồm những cuộc thảo luận với tất cả các bên có quyền lợi và quan tâm.

Nguồn: Xinhua/Phnom Penh Post
by LTSA

Minh Anh - Tại Naypyidaw, người ta có thể nhìn thấy những đại lộ rộng lớn như là các đường băng trong sân bay, nhưng lại rất vắng vẻ. Đây đó, nhiều công trình mọc lên như nấm, được tô điểm bởi các mặt tiền hào nhoáng của các khách sạn hạng sang và ánh đèn lấp lánh của các siêu thị lớn. Người bộ hành duy nhất lại là những người quét đường. nhật báo Le Monde số ra hôm nay có bài viết đặc biệt quan tâm đến Miến Điện, qua bài phóng sự « Naypyidaw, thủ đô « ma » của giới quân sự Miến Điện ».
Le Monde viết, thủ đô mới của Miến Điện buộc người ta phải nghĩ đến câu châm ngôn của Blaise Pascal về hình dạng của vũ trụ : Naypyidaw giống như là một « quả cầu bất tận » có « tâm ở khắp mọi nơi, và chu vi thì hư không ». Thậm chí, ta có thể lập luận ngược lại là, thành phố cũng có thể là một thế giới có tâm hư không và chu vi thì khắp mọi nơi.

Tại Naypyidaw, người ta có thể nhìn thấy những đại lộ rộng lớn như là các đường băng trong sân bay, nhưng lại rất vắng vẻ. Đây đó, nhiều công trình mọc lên như nấm, được tô điểm bởi các mặt tiền hào nhoáng của các khách sạn hạng sang và ánh đèn lấp lánh của các siêu thị lớn. Người bộ hành duy nhất lại là những người quét đường. Trong ngày lễ Giáng sinh, khi những ngôi sao trên cây thông Noel nhấp nháy ánh đèn nhưng lại không có người ngắm, dưới cơn mưa mù mịt và lạnh lẽo, để lại cảm giác như đi lạc vào một vương quốc không người.

Le Monde cho biết, thủ đô mới này có diện tích 8000 km², được phân chia thành 5 quận tùy theo các chức năng đặc trưng : «khu khách sạn », « khu quân sự », « khu hành chính » chẳng hạn như khu vực dành cho các bộ v.v… Nghị viện Miến Điện tọa lạc trong khu hành chính. Một khu phức hợp tập trung cả hai tòa Thượng viện và Hạ viện.

Naypyidaw theo tiếng Miến Điện có nghĩa là « ngai vàng của các vì vua ». Cách đây 7 năm, chính xác là vào ngày 6 tháng 11 năm 2005, lúc 6 giờ 37 phút, giờ hoàng đạo theo tính toán của các nhà chiêm tinh, chính quyền quân phiệt đã khai mào chiến dịch di dời cơ quan hành chính sang một nơi bất định cách thủ đô cũ Rangun 320 km về phía Bắc. Theo ước tính của một chuyên gia kinh tế, chi phí để xây dựng thành phố mới tốn khoảng 3 hay 4 tỷ đô-la.

Chính cựu độc tài Tan Shwe đã đưa ra ý tưởng xây dựng thành phố mới này. Le Monde cho biết, hiện ông này đang nghỉ hưu « an nhàn » đâu đó tại một nơi bí ẩn của thành phố « ngai vàng » chưa hoàn thành. Le Monde giải thích chính quyền quân sự đội lốt dân sự đã cho xây dựng thủ đô mới là vì họ muốn tránh xa phe nổi dậy tại Rangun, nơi diễn ra nhiều cuộc biểu tình rầm rộ, nhất là vụ biểu tình vào năm 1998 đã bị chìm trong biển máu bởi những người lính Miến Điện hung hãn.

Mặt khác, việc di dời thủ đô hành chính còn mang tính chiến lược : di dời đến một nơi an toàn cho một quyền lực quân sự vốn luôn ám ảnh về khả năng tấn công đến từ phía Mỹ. Về mặt lịch sử và chiêm tinh học, việc sáng tạo ra một ngai vàng mới vốn đã được nằm sâu trong truyền thống và chứng tỏ thiện chí của chế độ nối lại vinh quang của những triều đại xưa, như là hoàng đế Mindon đã từng làm vào giữa thế kỷ 19.

Việc lựa chọn địa điểm cũng phù hợp với lịch sử đương đại của Miến Điện. Chính tại thị trấn Pyinmana thuộc Naypyidaw, tướng Aung San, thân sinh của nhà đối lập Aung San Suu Kyi đã đặt làm cứ địa chính cho phong trào kháng Nhật.

Hơn nữa, khi nói là thủ đô, thì phải nhắc đến ngành ngoại giao, thế nhưng không có đến một trụ sở của lãnh sứ quán nước ngoài nào đến tọa lạc nơi đây. Theo nhận định của một người dân bản xứ, thì “Naypyidaw khó có thể trở thành một thành phố thật sự. Ít nhất cũng phải là 10 năm nữa”.

Trung Quốc quyết không để mất quyền kiểm soát Tây Tạng

Nhìn sang Tây Tạng, báo Le Monde có bài phỏng vấn ông Nicolas Bequelin – nhà nghiên cứu cho Human Rights Watch, về vụ các nhà sư tự thiêu. Theo nhận định của ông này, « Trung Quốc sẽ không để mất quyền kiểm soát tại Tây Tạng, nhưng tính chính đáng của họ cũng bị xói mòn ».

Lý giải cho làn sóng tự thiêu tại Tây Tạng, ông Nicolas phân tích rằng kể từ sau các đợt biểu tình năm 2008 xảy ra, tình hình trở nên lắng dịu là nhờ vào sự hiện diện dày đặc của cảnh sát và quân đội. Tự do đi lại bị hạn chế do có nhiều trạm kiểm soát đươc dựng lên. Những người Tây Tạng muốn trở về Lhasa sẽ gặp nhiều khó khăn. Không những vậy, làn sóng biểu tình năm 2008 bắt nguồn từ chính sách hà khắc được thiết lập từ những năm trước đó, nhất là trong các trại cải tạo. Chính những chính sách này đã làm cho một số bộ phận tu sĩ lánh xa, những người trước đây vốn cố tìm kiếm sự hợp tác.

Một mặt, chính quyền vẫn kêu gọi « phải tôn trọng pháp luật », mặt khác theo đuổi trấn áp hậu sự kiện 2008, vẫn in đạm dấu nét không hợp pháp : mất tích, hành động tàn nhẫn, tra tấn. Điều nghịch lý là, trong giai đoạn cải cách và mở cửa, Bắc Kinh rõ ràng đã buông rơi mục tiêu của chủ nghĩa Mao vốn muốn làm biến mất tôn giáo, khi tuyên bố rằng « Trong khuôn khổ pháp lý, người dân có thể làm những gì mà mình muốn miễn là vẫn tuân theo các quy định ». Nhưng trên thực tế khó có thể áp dụng do việc lạm quyền đã quá nhiều. Và năm 2008 là một bước ngoặt.

Theo ông Nicolas Becquelin, hậu quả của các vụ tự thiêu này đã tạo ra nhiều áp lực cho cả đôi bên, chính quyền và giới chức sắc, đang giữ vai trò trung gian giữa các quan chức chính quyền và cộng đồng tu sĩ. Giới chức sắc sẽ khó tìm kiếm được một thỏa thuận với các quan chức chính quyền. Tại những nơi nào đã đạt được thỏa thuận, thì chính quyền ít gây áp lực và tu viện có nhiều tự do hơn.

Như vậy, các vụ tự thiêu xảy ra là do áp lực đến từ tầng lớp thấp trong cộng đồng tu sĩ. Hoặc họ cho rằng giới lãnh đạo tu viện đã không làm đủ vai trò thương thuyết, hoặc những người này quá mềm mỏng trước các lệnh cấm nghiêm ngặt. Điều này cũng đồng nghĩa với việc dù ở mức độ đàn áp, an ninh hay kiểm soát nào, cũng luôn có người sẵn sàng hy sinh. Việc này sẽ khiến cho chính phủ càng nghi ngờ người Tây Tạng, sẽ gia tăng trấn áp và như vậy sẽ khiến cho người dân bị mất mát nhiều hơn. Đây chính là vòng xoáy khiến cho người Tây Tạng ngày càng xa rời quỹ đạo Trung Quốc, trong khi đó, tầm ảnh hưởng dường như ngày càng mạnh. Trung Quốc sẽ không để mất quyền kiểm soát nhưng tính chính đáng cũng sẽ bị xói mòn theo.

Như vậy, tình hình sẽ tiến triển như thế nào ? Ông Nicolas Becquelin nhận định dường như Trung Quốc có thể sẽ sẵng sàng đặt cược cho một xung đột tiềm tàng tại Tây Tạng. Bắc Kinh chấp nhận chi trả các chi phí cho an ninh, cũng như tác động của xung đột lên ngành du lịch trong ngắn và trung hạn. Mục tiêu quan trọng nhất là phải củng cố an ninh qua việc xây dựng các cơ sở hạ tầng, đô thị hóa nhằm hỗ trợ cho việc cài đặt người Hán trên nhiều vùng khác.

Ông Becquelin nhận xét, một sự cá cược cho tương lai, với thời gian, vị trí Trung Quốc sẽ ngày càng mạnh hơn. Thế nhưng, trên phương diện quốc tế, việc làm này sẽ gây ảnh hưởng đến hình ảnh và tiếng tăm. Bởi lẽ, Trung Quốc rất chú trọng đến tầm quan trọng hơn là tin vào hình ảnh và « quyền lực mềm » của chính mình. Có điều giá phải trả có nguy cơ ngày càng lớn, dù rằng vấn đề Tây Tạng đối với Bắc Kinh chỉ là chuyện bên lề.

Chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Iran ngày càng trầm trọng

Nhìn sang Trung Đông, Le Figaro chú trọng đến căng thẳng giữa Washington và Teheran qua bài viết đề tựa « Iran và Hoa Kỳ, chiến tranh lạnh được củng cố». Nước Cộng hòa Hồi giáo vừa đưa ra một quyết định khó khăn khi kết án tử hình một người Mỹ gốc Iran về tội làm gián điệp cho CIA. Sự việc cho thấy Teheran quyết tâm đối đầu với những lời đe dọa ban hành lệnh cấm vận của Mỹ và châu Âu lên ngành xuất khẩu dầu hỏa của Iran. Liệu có phải Iran đang phúc đáp lại lời Ngoại trưởng Mỹ cảnh báo nước này rằng mọi ý định đóng cửa eo biển Ormuz sẽ được xem như là đã vượt qua « đường báo động đỏ ».

Theo nguồn tin ngoại giao từ Cơ quan năng lượng nguyen tử quốc tế, thì Teheran đã bắt đầu chương trình làm giàu chất uranium tại một địa điểm mới nằm sâu trong lòng đất, được bảo vệ kỹ lưỡng cho phép tránh được các cuộc không kích.

Le Figaro nhắc lại vào năm 2010, giám đốc cơ quan năng lượng hạt nhân Iran đã từng tuyên bố rằng Iran sắp sửa khởi động nhà máy Fordow, gần với khu thánh địa Qom. Tuyên bố này đã đặt Mỹ và Israel trước một sự lựa chọn khó khăn. Bởi lẽ, khu nhà máy này nằm sâu trong lòng đất khó có thể bị dội bom cho dù đó là những loại bom cực mạnh. Đồng thời, lực lượng không quân của hai nước cũng phải đối mặt với hệ thống phòng không tinh vi tại khu vực này. Ông này cũng cho biết thêm là trung tâm hạt nhân này còn được trang bị một máy quay ly tâm thế hệ mới, cho phép gia tăng tốc độ làm giàu chất uranium.

Theo Le Figaro, Mỹ nghi ngờ rằng Iran có lẽ đã sản xuất khá đủ thanh nhiên liệu để trang bị cho 4 đầu đạn hạt nhân. Vì vậy, mối bận tâm hàng đầu hiện nay của Washington là làm thế nào ngăn chặn việc sản xuất vũ khí hạt nhân, theo như lời khẳng định của Ngoại trưởng Mỹ trên đài CBS.

Trong khi đó, tại Iran, trong những ngày cuối tuần vừa qua, Teheran tuyên bố đã cho bắt giữ một lượng đông gián điệp làm việc cho Mỹ. Một loạt các câu hỏi được Le Figaro đưa ra : Liệu những lời kết tội này là thật hay giả? Có phải là Mỹ và Israel đã gia tăng các hành động quấy rối chống lại việc thiết lập các trung tâm hạt nhân nhạy cảm, bằng cách điều khiển từ xa các hành động ám sát nhắm vào các quan chức ngành hạt nhân Iran. Theo lời xác nhận của nguồn tin an ninh từ Bagdad, thì « Mossad - cơ quan phản gián Israel- sử dụng những người kurde chống đối lại chế độ Iran tại vùng tự trị Kurdistan – Irak để cài đặt người vào Iran ».
by LTSA

Thanh Phương - Vốn đã chuẩn bị từ lâu cho việc chuyển giao quyền hành ở Bắc Triều Tiên một khi Kim Jong-Il qua đời, Trung Quốc nay sẽ tìm cách củng cố vị thế của tân lãnh đạo chế độ Bình Nhưỡng Kim Jong-Un, theo nhận định của các nhà phân tích được hãng tin AFP trích dẫn hôm nay.
Cái chết ngày 17/12 của nhân vật được gọi là « Lãnh tụ kính yêu » hoàn toàn không làm Trung Quốc bất ngờ, bằng chứng là cùng với lời chia buồn « sâu sắc » gởi đến Bình Nhưỡng, Bắc Kinh đã công nhận ngay Kim Jong-Un là tân lãnh đạo, đồng thời bày tỏ mối quan tâm về sự ổn định của Bắc Triều Tiên.

Theo lời nhà phân tích Scott Bruce, thuộc Đại học San Francisco, Trung Quốc đã cùng với Bắc Triều Tiên chuẩn bị hậu sự cho cái chết của Kim Jong-Il. Những chuyến đi của Kim Jong-Il đến Trung Quốc trong ba năm qua dường như một phần là nhằm chuẩn bị cho việc kế nhiệm ông.

Chỉ trong khoảng hơn 1 năm, cho đến mùa hè 2011, ông Kim Jong-Il đã bốn lần sang Trung Quốc, đồng minh thân cận nhất và cũng là nguồn cung cấp viện trợ hàng đầu cho chế độ Bình Nhưỡng. Theo ông Scott Bruce, dường như là Kim Jong-Un cũng đã gặp một phái đoàn quan chức cao cấp của Trung Quốc tại Bình Nhưỡng vào cuối năm 2010, cho thấy là Bắc Kinh từ lúc đó đã chấp thuận việc chuyển giao quyền hành cho thế hệ họ Kim thứ ba.

Chắc chắn là Trung Quốc sẽ theo dõi sát nhất cử nhất động của ban lãnh đạo mới ở Bắc Triều Tiên. Nhưng các chuyên gia dự báo là Bắc Kinh sẽ tìm cách đóng một vai trò ngày càng quan trọng hơn, vì Trung Quốc muốn kiểm soát chặt chẽ hơn Bắc Triều Tiên để bảo đảm là quốc gia này không sụp đổ.

Theo ông John Feffer, đồng giám đốc dự án Foreign Policy in Focus của Viện Nghiên cứu Chính sách IPS ở Washington, đối với Bắc Kinh, sự sụp đổ của Bắc Triều Tiên đồng nghĩa với làn sóng người tỵ nạn ồ ạt đổ sang, với những vũ khí nguyên tử không ai kiểm soát, với rối loạn kinh tế khu vực. Chưa kể đến việc lực lượng Hoa Kỳ sẽ được triển khai trên bán đảo Triều Tiên.

Theo lời bà Valérie Niquet, chuyên gia thuộc Viện nghiên cứu chiến lược ở Paris, mối lo ngại chính của Trung Quốc là sự sụp đổ của một chế độ « có tầm quan trọng chiến lược rất lớn ». Nhất là vào lúc mà Hoa Kỳ đang quay trở lại khu vực châu Á và tăng cường các liên minh khu vực, đối lại những quyền lợi của Bắc Kinh. Trung Quốc cũng muốn tiếp tục đóng vai trò « trung gian không thể thiếu được » trong hồ sơ hạt nhân Bắc Triều Tiên, cũng như trong đàm phán sáu bên, mà Bắc Kinh đang muốn khởi động lại.

Cũng theo bà Valérie Niquet, Trung Quốc sẽ làm đủ mọi cách để củng cố quyền lực cho Kim Jong-Un, nhất là qua việc giúp phát triển kinh tế của một quốc gia vừa gặp nạn đói, vừa bị quốc tế trừng phạt. Trong những chuyến đi Trung Quốc cuối cùng, cố lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong-Il đã đến thăm các đặc khu kinh tế và các nhà máy để học hỏi kinh nghiệm mở cửa kinh tế của đồng minh.

Theo chuyên gia John Feffer, đổi lại với việc giúp Bình Nhưỡng phục hồi kinh tế, Trung Quốc đã được hưởng những điều kiện ưu đãi trong các thoả thuận về khai thác các mỏ đồng, than và đất hiếm ở Bắc Triều Tiên, cũng như được quyền sử dụng các hải cảng ở nước này.

Nhưng theo lời một chuyên gia Trung Quốc thuộc Đại học Bắc Kinh, chính phủ nước này hiện còn rất lo ngại, bởi vì quyền lực của Kim Jong-Un chưa thật vững chắc, cho dù báo chí chính thức của Bắc Triều Tiên đã gọi ông là « tư lệnh tối cao của quân đội » và « lãnh đạo Đảng Lao Động Triều Tiên.»
Thứ ba, ngày 10 tháng một năm 2012 by LTSA



QUẢNG NINH (NV) -Lần đầu tiên tại cuộc họp diễn ra sáng 9 Tháng Giêng, tất cả các chủ tàu du lịch vịnh Hạ Long đồng loạt phản đối quyết định của chính quyền tỉnh này buộc họ phải sơn trắng thân tàu.

Theo báo Người Lao Ðộng, mới đây chính quyền tỉnh Quảng Ninh cao hứng buộc các chủ tàu du lịch hoạt động tại vịnh Hạ Long đều phải sơn tàu màu trắng để gọi là “đổi mới và nâng cao chất lượng tàu tại thắng cảnh kỳ quan thiên nhiên thế giới”.

Trong văn bản buộc các chủ tàu phải đổi màu sơn vỏ tàu, chính quyền không loại trừ các con tàu mà người chủ cho rằng đã có “màu gỗ tự nhiên tuyệt đẹp”.

Quyết định của chính quyền tỉnh Quảng Ninh còn ra thời hạn cuối cùng phải thực hiện lệnh “đổi màu” hàng trăm con tàu ở vịnh Hạ Long là ngày 30 tháng 4 tới.

Cho rằng đây là quyết định “quái chiêu,” phản thực tế, hàng trăm chủ tàu lớn đều lên tiếng phản đối việc thi hành mệnh lệnh của chính quyền tỉnh Quảng Ninh tại cuộc họp diễn ra hôm 9 Tháng Giêng tại tỉnh này.

Các chủ tàu cho hay sẽ có đến 502 chiếc tàu bị buộc phải “đổi màu” tốn đến 40 tỉ đồng, tương đương 2 triệu đô la.

Một số chủ tàu cho biết rằng quyết định buộc phải sơn lại màu trắng trên 500 con tàu gây lãng phí lớn. Theo họ, điều quan trọng hơn là quyết định này đánh mất hình ảnh truyền thống của những chiếc tàu buồm có màu cánh gián nổi bật trên sắc xanh của biển cả và núi non vùng vịnh Hạ Long.

Giới chủ tàu cũng cho rằng màu sơn trắng sẽ chóng bẩn, lộ vết rạn, lộ chân đinh và “xuống sắc” nhanh chóng.

Thái độ phản đối được coi là đồng loạt và mạnh mẽ này chưa biết liệu có làm thay đổi quyết định “vững như đồng” của chính quyền tỉnh Quảng Ninh hay không.

Trước đó, Sở Văn Hóa và Thông Tin tỉnh Quảng Ninh cũng ra một quyết định tăng giá vé du lịch vịnh Hạ Long đúng vào mùa Tết có đông người đến thăm thắng cảnh này. Lần này thì tổ chức Hiệp Hội Du Lịch Sài Gòn tỏ thái độ phản đối quyết liệt.

Hiệp hội này, theo báo Người Lao Ðộng đã gửi văn bản phản đối việc tăng giá vé du lịch vịnh Hạ Long đúng vào lúc địa điểm này được người dân chọn là “kỳ quan mới của thế giới”.

Các công ty du lịch cho hay việc tăng giá vé du lịch thắng cảnh Hạ Long là một việc làm “phản khoa học,” quay lưng với du khách, gây khó khăn cho tính cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam.
by LTSA

Tú Anh - Trong những ngày đầu năm 1012, đã xảy ra liên tiếp ba vụ tư thiêu của các nhà sư Tây Tạng tại Trung Quốc. Bộ ngoại giao Mỹ cho biết « rất lo ngại » về thông tin các tu sĩ Tây Tạng tự thiêu. Washington xem đây là hành động biểu lộ sự tuyệt vọng của người dân trong chế độ thiếu tự do tôn giáo ở Trung Quốc.
Hôm qua 09/01/2012, phát ngôn viên bộ ngoại giao Mỹ Victoria Nuland tuyên bố Hoa Kỳ « rất lo ngại về thông tin có thêm ba người Tây Tạng tự thiêu trong những ngày qua ». Phát ngôn viên Mỹ nhắc lại là Hoa Kỳ « đã nhiều lần và bằng cách trực tiếp lưu ý chính quyền Trung Quốc » vấn đề này.

Hoa Kỳ nhận định các hành động tự thiêu là bằng chứng cho thấy chính sách kìm kẹp nhân quyền kể cả quyền tự do tôn giáo đã tạo ra tình trạng bất bình và tuyệt vọng vô biên tại vùng đất do chính quyền Trung Quốc kiểm soát.

Trong vòng không đầy một năm, đã xảy ra 15 vụ tự thiêu tại các vùng có cộng đồng Tây tạng. Tân Hoa Xã đã chính thức xác nhận ba vụ tự thiêu sau cùng gồm hai vụ tại Tứ Xuyên và lần đầu tiên một nhà sư tự thiêu tại Thanh Hải.

Chính phủ Tây Tạng lưu vong ở Dharamsala cho biết nhà sư tự thiêu tại Thanh Hải tên là Sonam Wangyal có ý nguyện biến thân làm đuốc để phản đối tình trạng thiếu tự do tín ngưỡng.

Từ ba năm nay tu viện Kirti ở Tứ Xuyên đã bị chính quyền kiểm soát nghiêm nhặt, hàng trăm tu sĩ mất tích hoặc bị đưa đi cải tạo. Ban tôn giáo chính phủ lập ngay trong khuôn viên tu viện một cơ sở giám sát ngày đêm.
by LTSA

Tú Anh - Một tướng lãnh thuộc viện nghiên cứu quốc phòng Trung Quốc cảnh báo nguy cơ bị Hoa Kỳ bao vây. Tác giả bài bình luận trên báo Quân Đội Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của quân đội Trung Quốc, kêu gọi không nên « hoảng hốt » mà phải « thông minh » đối phó với ý đồ thực sự của Washington « che đậy » đàng sau học thuyết mới về quốc phòng của Mỹ.
Theo Reuters, một viên tướng Trung Quốc nhận định chính quyền Trung Quốc cần phải « cảnh giác » và chứng tỏ có một đối sách « ngoại giao thông minh » để đối phó với học thuyết quân sự mới của Hoa Kỳ.

Tướng La Viện, phụ tá tổng thư ký của Hiệp hội Nghiên cứu khoa học quân sự nhận định là dù Hoa Kỳ có phủ nhận thì thực tế vẫn là siêu cường này « đang phối trí lực lượng tại châu Á Thái Bình dương để ngăn chận Trung Quốc phát triển ».

Tác giả bài bình luận trên Quân Đội Nhân Dân lập luận « sự kiện Mỹ chối là không có ý xây đê ngăn sức mạnh đang lên của Trung Quốc đã làm lộ ý đồ thực sự của họ ».

Viên tướng thuộc phe diều hâu tại Bắc Kinh phân tích là nếu nhìn chung quanh Trung Quốc thì thấy ngay Hoa Kỳ đang củng cố liên minh quân sự quan trọng tại châu Á Thái Bình Dương, vừa xem xét lại vị trí của năm căn cứ quân sự quan trọng nhất vừa tìm kiếm thêm quyền sử dụng các hải cảng khác gần Trung Quốc.

Với nhận định này, tướng La Viên kết luận dưới dạng câu hỏi « còn ai tin Hoa Kỳ không nhắm bao vây Trung Quốc ? » và kêu gọi không nên hốt hoảng mà hảy tìm cách « đối phó bằng ngoại giao thông minh ».

Theo học thuyết quốc phòng vừa được Tổng thống Obama công bố hồi thứ năm tuần trước, Hoa Kỳ duy trì các căn cứ tại Nhật Bản, Hàn Quốc và sẽ bố trí Thủy Quân Lục Chiến , chiến hạm, phi cơ tại Úc.

Chiến lược mới còn dự trù phản ứng lại mọi kế hoạch phong tỏa biển Hoa Đông và eo biển Ormuz tại vùng Vịnh Ba tư.
by LTSA

Shinna
"Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn".
(Lời: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu)

Đây là bài đầu tiên tôi viết trong diễn đàn.
Khỏi mất thời gian của quý vị, xin nói mấy lời chân tình.
Quý vị có biết vụ tẩy trứng gà Tàu thành trứng gà ta không? Quý vị có suy nghĩ như thế nào?
Nếu hỏi quý vị một câu rằng nếu quý vị là một người dân thuộc làng Đông Ngàn, quý vị có tham gia vào cái việc tẩy trứng rồi đem đầu độc lại đồng bào của các vị không, thì chắc 100% quý vị ở đây trả lời là không !
Nhưng kỳ thực là quý vị đang làm những việc tệ hại hơn nhiều so với việc ấy.
Quý vị có bao giờ thấy người dân các nước "tư bản thối nát" "theo đuôi Mỹ" như châu Âu, Nhật, hàn Quốc người ta làm những cái trò đồi bại như tẩy trứng bằng axit, trộn melamin vào sữa, bơm hoá chất vào rau quả, quết mật ong giả vào chân gà thối.... để đem đầu độc chính giòng giống của họ không? Tuyệt nhiên là không.
Những vị nào đọc đến đây mà bảo tôi là "rân chủ", "ăn phải bả của tư bản", thì mời quý vị khỏi đọc nữa, đỡ mất thời gian của quý vị.
Quý vị có bao giờ nói hàng Mỹ, châu Âu, Nhật, Hàn, Thái là rởm, là đểu, là lừa đảo, là chạy theo đồng tiền... không? Hay là quý vị lùng sục mua bằng được những món đồ sản xuất ở những nước "tư bản thối nát" ấy với giá đắt gấp đôi gấp ba so với hàng của Trung Quốc?
Quý vị có thể không tẩm chất độc vào trứng, vào rau như những người nông dân kém hiểu biết, nhưng quý vị lại tẩm chất độc vào đầu óc của những con người xung quanh quý vị bằng những lời dối trá, hối lộ, chạy chọt để được vinh thân phì gia. Dần dần, mọi người trong xã hội đều chạy theo quý vị với một suy nghĩ cực kỳ lệch lạc rằng "mình không làm ắt sẽ có người khác làm".
Kinh tế quyết định chính trị, nhưng chính trị lại có tác động ngược trở lại kinh tế.
Một xã hội mà ai cũng chỉ biết lo cho bản thân mình như xã hội Việt Nam, xã hội Trung Quốc thì có đáng được gọi là "xã hội chủ nghĩa" không?
Các vị có hiểu thế nào gọi là "xã hội chủ nghĩa" và "tư bản chủ nghĩa" không? Các vị hiểu "XHCN" tức là có đảng cộng sản lãnh đạo còn "TBCN" là có nhiều đảng thay nhau lãnh đạo, hoặc là "nhiều đảng tư sản thay nhau lãnh đạo" phải không? Sai lầm.
Xã hội chủ nghĩa là đặt xã hội lên đầu, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân, nó đối lập với tư bản chủ nghĩa nơi mà "tư bản" được đặt lên đầu, mà tư bản chính là "tiền nằm trong lưu thông", hay nói tóm lại "tư bản" là lợi ích cá nhân.
Theo Hán Việt "tư bản" nghĩa là "vốn".
Một xã hội như Mỹ, Nhật là nơi mà con người luôn sống vì lợi ích riêng, nhưng không chà đạp lên lợi ích chung.
Người Nhật không bao giờ tẩm thuốc kích thích vào rau quả vì họ biết làm như thế sẽ gây hại cho những người đồng bào của họ, họ cũng không xuất khẩu những đồ kém chất lượng vì nó sẽ gây hại đến những đồng loại của họ, dù là người nước ngoài.
Người Nhật có thể tự sát, kết thúc sinh mệnh của mình, để bảo toàn danh dự cho gia đình, cho dòng tộc của họ.
Một xã hội như Việt Nam, trung Quốc là nơi con người miệng thì nói rằng "vì lợi ích tập thể", "xã hội chủ nghĩa", nhưng tay và chân thì chà đạp giày xéo lên người khác. Hãy nhìn thử một vụ tắc đường ở Việt Nam và một vụ tắc đường ở Thái Lan thì biết.
Vậy ở đâu mới xứng đáng là xã hội chủ nghĩa?
Đó là một điều mà tôi muốn nói với quý vị.
Các vị nói rằng ngày xưa dù nghèo khổ nhưng Việt Nam vẫn kiên cường chống lại hai đế quốc to. Điều này là đúng và theo một nghĩa nào đó, thì đáng tự hào.
Nhưng các vị lại nói ngày nay để được hoà bình, hay nói toẹt ra là để các vị được yên ổn làm ăn, yên ổn kiếm tiền, thì Việt Nam cần mềm dẻo với trung quốc, cho dù trên thực tế và trên tuyên bố, Trung Quốc đã và đang chiếm nhiều đất của chúng ta.
Vậy theo cái lý ngày xưa của quý vị thì đáng ra Việt Nam phải vùng lên đánh lại Trung Quốc, hoặc theo cái lý ngày nay của quý vị thì đáng ra ngày xưa Việt Nam không nên đánh lại Pháp và Mỹ mới phải.
Nhưng sự thực thì quý vị luôn tự hào về ngày xưa và đớn hèn về ngày nay. Chẳng có cái lý nào ngoài cái lý tiền. Các vị sợ đánh nhau với trung quốc thì con cái các vị phải ra trận, hoặc ít ra thì khi có chiến tranh, việc làm ăn kiếm tiền của các vị sẽ khó khăn hơn. Tóm lại các vị chỉ biết có bản thân mình, các vị cá nhân chủ nghĩa ở trình độ cao cấp.
Đó là cái thứ hai tôi muốn nói với các vị.
Các vị khi thì hô hào "Việt Nam là bạn với thế giới" , khi thì hô hào "Việt Nam phải cảnh giác với Mỹ, Âu, Tàu, Nhật". Như thế là cái lý gì?
Vì cái tư tưởng lúc nào cũng thù với hận của các vị, nên các vị không bao giờ thật lòng giao hảo với bất cứ ai. Các vị bắt tay người nước ngoài khi họ đến mang theo đô la và các vật dụng đắt tiền cho các vị hưởng, nhưng các vị lại vênh mồm lên chửi khi họ chỉ ra những cái sai lầm của quý vị. Quý vị biện luận rằng trong quan hệ quốc tế thằng nào cũng chỉ lợi dụng lẫn nhau thôi. Vậy thì người ta sẽ nghĩ về quý vị đúng như thế. Thuỵ Điển, na uy hàng năm cho không Việt Nam hàng triệu đô la và nhiều chương trình đào tạo phát triển, họ lợi dụng gì quý vị? Hay là quý vị nghĩ rằng họ chẳng qua muốn lấy lòng quý vị nên mới thế? Vậy nghĩ xem quý vị đã là cái thá gì mà người ta phải lấy lòng?
Quý vị thử chìa tay ra cho một người, rồi biết được người ấy lúc nào cũng nhăm nhăm "cảnh giác cao độ" với cái chìa tay của quý vị, thì quý vị sẽ nghĩ gì về người đó?
Đầu óc quý vị quá đen tối và nói thẳng ra quý vị cũng suốt ngày tìm cách lợi dụng người khác nên mới nghĩ cho người khác đen tối như thế.
Vì thế nên Việt Nam ta mới tụt hậu so với nước ngoài như hôm nay. Những quốc gia như Nhật, Hàn, Thái Lan vốn có điểm xuất phát không hơn ta là mấy nhưng nay họ đã vượt ta nhiều, đó là vì sao? Vì họ có tầm nhìn hơn chúng ta. Vì họ hiểu được một lý thuyết cơ bản nhất của thương mại đó là cả hai bên cùng có lợi, họ không bao giờ bắt tay với người khác mà trong bụng thì cứ nơm nớp lo người ta "lợi dụng" mình. Suy nghĩ kiểu như thế chỉ tồn tại trong những bộ óc chưa tiến hoá hết từ vượn sang người.
Nói thẳng ra, các vị là những kẻ hám tiền, lo cho lợi ích của cá nhân và cùng lắm là gia đình mình, là hết. Các vị ưa xiểm nịnh, khi báo Washington Post đưa tin rằng nền KT việt nam đang cất cánh thì quý vị tung hô tờ báo ấy như là chuẩn mực của sự trung thực, còn khi cũng báo Washington Post đưa tin về tham nhũng của Việt Nam thì các vị nói họ đưa tin không chính xác. Cái thái độ lá mặt lá trái ấy cũng đúng trong trường hợp người ta nói về "kẻ thù" của quý vị, ví như việc Ân Xá Quốc Tế lên án Mỹ vi phạm nhân quyền và cũng lên án Việt Nam với tội danh tương tự.
Đây là điều thứ ba tôi muốn nói với quý vị.
Điều thứ tư nghe sẽ hơi sốc: nói thẳng ra là quý vị cực ngu.
Quý vị không tin vào các thông tin "lề trái", tức là những thông tin trái ngược với báo chí chính thống và những tuyên bố chính thức của Việt Nam. Nhưng bản thân quý vị đang sinh hoạt ở một diễn đàn có tên miền quốc tế, đã hoạt động được hơn 2 năm nhưng ngân khoản duy trì sự tồn tại của nó vẫn là từ tiền của cá nhân những con người đáng trân trọng đã lập ra website này. Tại sao website này không thể có đuôi .vn và cũng không thể đăng quảng cáo được, quý vị nếu đủ thông minh thì đã nghĩ ra từ lâu rồi.
Quý vị quy kết tất cả những lời nói, bài viết của người khác là "phản động" "chống lại Việt Nam", "bán rẻ tổ quốc" chỉ vì những người ấy không có tư tưởng giống như quý vị. Quý vị bỏ ngoài tai mọi lời phân tích không theo ý kiến của quý vị, quý vị biến một diễn đàn trao đổi tri thức thành một cái chợ để cãi nhau và sỉ vả nhau bằng những từ như "thằng chó", "con lợn", một cách tự nhiên không biết ngượng mồm. Nếu vậy quý vị mất thời gian lên diễn đàn làm gì? Sao không trùm chăn lại tự nói cho xong?
Quý vị gọi người khác là "chống lại đất nước" bởi vì họ chống lại suy nghĩ của quý vị, như thế khác gì quý vị tự coi mình là đại diện của nước Việt Nam? Quý vị tự cho mình là người phát ngôn của chính phủ Việt Nam, hay ngắn gọn, quý vị chính là Việt Nam?
Quý vị kêu gọi người ta "cảnh giác với những âm mưu gây chia rẽ", nhưng lại không nhận ra rằng chính cái lời kêu gọi ấy của quý vị là một âm mưu gây chia rẽ. Nếu quý vị muốn sống tốt với hàng xóm của mình, ắt quý vị không bao giờ bắc loa giữa phố mà rằng "hãy cảnh giác với thằng A, con B, hàng xóm của tôi, chúng nó đang âm mưu chia rẽ".

Quý vị ngu lắm.
Muốn đất nước phát triển được, hãy thôi mò mẫm và ảo tưởng trong cái thế giới độc tôn của quý vị, hãy tỉnh táo trước những khẩu hiệu, hãy đi vào bản chất thay vì hô hào bên ngoài, hãy lắng nghe xem người khác nói thế nào, và hãy chân thật trong mọi mối quan hệ.
Nhưng tôi không vọng tưởng rằng một ngày nào đó quý vị sẽ thay đổi. Quý vị sẽ mãi mãi là người dân của một đất nước tụt hậu, tham nhũng, ô nhiễm và không được bạn bè quốc tế coi trọng.
Đên đây chợt nhớ câu nói của cụ Tản Đà:
"Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn..."


Nguồn:Chiến Sĩ Tự Do News
by LTSA

HẢI PHÒNG (NV) - Gia đình vợ con, anh em của ông Ðoàn Văn Vươn đã bị bắt giam tất cả 7 người, tính đến ngày 9 tháng 1 năm 2012, theo các tin của một số báo ở Việt Nam sau cuộc nổ súng chống cưỡng chế ở một thôn ven biển thuộc xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng ngày 5 tháng 1 năm 2012 vừa qua.

Chỉ một ngày sau hôm sau xảy ra vụ việc, công an đã bắt giam chủ đầm Ðoàn Văn Vươn, Ðoàn Văn Tịnh (em ông Vươn), Ðoàn Văn Vệ (cháu ông Vươn), Ðoàn Xuân Quỳnh (con trai ông Vươn), Nguyễn Thị Thương (vợ ông Vươn), Phạm Thị Hiền (em dâu ông Vươn). Ðoàn Văn Quý, em trai ông Vươn, bị nói là người nổ súng, ra trình diện hôm 7 tháng 1, 2012 và cũng đang bị giam giữ để điều tra.

Khi lực lượng đông hơn 100 người đến cưỡng chế khu ao hồ nuôi thủy sản và vườn cây trái rộng khoảng 50 ha của đại gia đình ông Vươn, họ đã bị chống trả với mìn và súng bắn đạn hoa cải. Có 4 công an và 2 bộ đội bị thương. Những người chống cưỡng chế đã bỏ trốn khi thấy lực lượng cưỡng chế quá đông. Căn nhà gạch có lầu của ông Quý cũng như căn nhà lợp bổi của ông Vươn đã bị đoàn cưỡng chế bắn xối xả trước khi giật sập.

Nếu anh em ông Vươn bị truy tố theo điều 82 của Bộ Luật Hình Sự với tội danh “Tội bạo loạn”, hình phạt có thể lên đến tử hình. Nhưng nếu chỉ bị truy tố theo điều 257 “Chống người thi hành công vụ”, và điều 232, 233 về tàng trữ, sử dụng vật liệu nổ và vũ khí thô sơ, có thể chỉ bị tù từ 1 năm đến chung thân.

Báo Ðất Việt ngày 9 tháng 1 năm 2012 dựa theo thông tin từ cơ quan điều tra nói rằng trước vụ cưỡng chế xảy ra “anh em ông Quý, Vươn và một số đối tượng khác đã bàn bạc, thống nhất hành động”.

Khi nhà cầm quyền địa phương ra quyết định truy tố “vụ án giết người và chống người thi hành công vụ” dù không có ai chết, cho người ta hiểu là anh em ông Vươn đang đối diện với các bản án rất nặng, dù chưa biết ở cấp độ nào.

* Nhất định giữ đất

Báo Dân Trí thuật theo cơ quan điều tra thì sau 2 ngày lẩn trốn, ông đoàn Văn Quý “khai do không đồng tình với việc khu đất của gia đình bị cưỡng chế, Quý cùng các thành viên trong gia đình đã bàn nhau quyết định giữ đất. Trước đó, các thành viên trong gia đình Quý đã làm đơn khiếu nại gửi các cơ quan chức năng ở huyện Tiên Lãng. Sau 8 lần hòa giải không thành công, cuộc cưỡng chế được thực hiện”.




Sau 5 ngày xảy ra vụ việc, nhiều tin tức xuất hiện trên nhiều nguồn khác nhau đã cho người ta một thứ hình ảnh khá rõ rệt về bản chất sự việc. Một vụ cưỡng chế nhằm cướp đoạt mồ hôi nước mắt của một đại gia đình đã có công biến một vùng bờ biển hoang vu thành một khu đầm nuôi tôm nuôi cá và vườn cây ăn trái. Họ đã bỏ công sức suốt hai chục năm, nay vẫn còn nợ nhiều tỉ đồng, bị cưỡng chế không được bồi thường, họ không còn gì để sống.

Theo nhà báo Huy Ðức viết trên Facebook và được một số báo mạng đăng tải lại “Theo Ðiều 67 của Luật Ðất đai: ‘Khi hết thời hạn, người sử dụng đất được nhà nước tiếp tục giao đất, cho thuê đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng, chấp hành đúng pháp luật về đất đai... ’ ’ Chắc bởi chính quyền địa phương lấy đất đầm của ông Ðoàn Văn Vươn giao cho người khác nên mới xảy ra cơ sự vậy. Mặt khác, cũng theo Ðiều 67, ‘Trường hợp đất được nhà nước giao, cho thuê trước ngày 15 tháng 10, 1993 thì thời hạn giao đất, cho thuê đất được tính từ ngày 15 tháng 10, 1993’. Tính từ 15 tháng 10, 1993 thì thời hạn được thuê của ông Vươn còn gần hai năm nữa, 15 tháng 10 năm 2013, thu bây giờ là sai luật rồi. Các nhà báo nên điều tra kỹ trước khi viết”.

Blogger Culangcat bình luận rằng dù chưa đến hạn phải trả đất mà “huyện đã nuốt lời, bần cùng hóa một người lương thiện đến vô ơn”.

Một số người tìm lại được bài viết “Kỳ tài đất Tiên Lãng và cuộc chinh phục lời nguyền của biển” của báo Pháp Luật và Ðời Sống viết ngày 22 tháng 7, 2010 nay đã bị xóa. Bài ký sự mô tả Ðoàn Văn Vươn là một “bộ đội phục viên” năm 1986, con của một đảng viên, vừa làm nông dân vừa ghi tên học canh nông. Ðỗ đại học không kiếm chức quyền vừa nhàn hạ vừa có cơ hội tham nhũng mà lại quyết chí đi ngăn biển lấy đất, làm ao nuôi cá.

Sau nhiều năm trời kiên trí, khoảng 20,000m3 đất đá cũng đã tạo được bờ kè chắn sóng lấn biển để gia đình anh em ông có cơ ngơi như ngày nay.

Bây giờ, công lao đội đá lấn biển của ông và anh em gia đình nhà ông sắp được thưởng những bản án rất có thể đến tử hình.


* Lấy chứ không đền bù


Trong cuộc phỏng vấn của đài BBC hôm 9 tháng 1 năm 2012, bà Trần Thị Mịn, em dâu ông Ðoàn Văn Vươn nói rằng gia đình họ hiện đang nợ hơn 10 tỉ đồng. “Họ lấy trắng chứ không đền bù cái gì nên gia đình mới cố giữ để sinh nhai, giả nợ.” Bà Mịn nói. “Trước kia anh Vươn làm đơn ở tòa án thành phố, tòa yêu cầu giả lại mặt bằng cho anh rồi. Chủ tịch huyện đồng ý cho ký kết hợp đồng lại, nhưng hai năm nay lại bắt dừng đầu tư. Có nộp sản cũng không lấy, không hiểu làm sao”.

Bà Mịn kể trong cuộc phỏng vấn rằng con trai ông Vươn và mấy phụ nữ trong gia đình đã bị đánh đập dã man.

Trong một bản tin khác của báo Ðất Việt ngày 9 tháng 1 năm 2012, nhà cầm quyền đã dồn đại gia đình anh em ông Vươn, ông Quý vào đường cùng nên họ đã “quẫn trí” mà hành động chống cưỡng chế.

Theo tìm hiểu của tờ Ðất Việt, “Sáng 8 tháng 9 năm 2009, tại buổi làm việc với lãnh đạo Bộ GTVT, lần đầu tiên lãnh đạo UBND TP. Hải Phòng mới đề xuất với chính phủ phương án xây dựng sân bay cấp vùng duyên hải phía Bắc ở khu vực Tiên Lãng, thay thế cho sân bay Cát Bi sau năm 2025 và là sân bay hỗ trợ cho sân bay quốc tế Nội Bài. Thứ trưởng Bộ GTVT kiêm cục trưởng Cục Hàng Không Phạm Quý Tiêu cho rằng, nếu Hải Phòng có 2 sân bay dân dụng là không ổn về mặt kinh tế. Và Hải Phòng vẫn có kế hoạch nâng cấp sân bay Cát Bi đến năm 2015 và 2025.”

Thế rồi “Mãi đến ngày 28 tháng 4, 2011 vừa qua, thủ tướng chính phủ mới ký quyết định 640/QÐ-TTg phê duyệt quy hoạch vị trí cảng hàng không quốc tế Hải Phòng. Theo đó, vị trí quy hoạch cảng hàng không mới sẽ nằm ở 4 xã Vinh Quang, Tiên Hưng, Ðông Hưng, Tây Hưng của huyện Tiên Lãng. Tức là cho đến nay, sau khi có sự đồng ý này, Bộ GTVT mới bắt tay vào việc lập quy hoạch sân bay. Trong khi đó, ngay từ 2005 người dân đã khiếu nại, 2007 đã khởi kiện ra tòa về quyết định thu hồi đất của UBND huyện Tiên Lãng.”