Thứ Tư, 7 tháng 9, 2011
by LTSA
Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách: Nước nhà lúc hưng thịnh hay lúc suy vong, một người dân thường cũng phải có trách nhiệm lo lắng. Định nghĩa quốc hồn, quốc túy nó là như vậy, nhưng thời buổi này ai mà xướng lên như thế nếu không dòm trước ngó sau coi chừng bị vỗ vai: “Biết rồi! có im cái mồm đi không! ai khiến anh lo! Đảng, nhà nước lo rồi?” Thực tế là như thế, không ít người biểu tình yêu nước trong 11 ngày chủ nhật vừa qua hay nghe như vậy.
Chưa đến lượt thất phu, trước đó, những bậc “Trượng Phu” – vì trượng phu toàn cành đa, cành đề nên được nhẹ tay, cảnh cáo (bằng văn phu) cái công văn Quyết định 97/2009/QĐ-TTg về việc ban hành Danh mục các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) được ông Thủ tướng ký với nội dung hướng dẩn phản biện có điều kiện, có xin phép, làm cho một loạt các vị trượng phu tên tuổi trí thức lớn trong Hội đồng Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) gồm 16 vị, như các ông: Hoàng Tụy, Nguyễn Quang A, Phan Đình Diệu, Tương Lai, Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan, Nguyễn Trung, Nguyên Ngọc..v.v phải ngậm ngùi “gác kiếm” tự giải thể để phản đối, bởi gươm thiêng mài bao năm là mong có dịp giúp nước giúp dân giờ chỉ cho phép chém “ruồi” thì còn gì là gươm?.
Rồi đây nữa – cũng vì trượng phu hữu trách ấy mà một loạt nhân sĩ trí thức các ông: GS Hoàng Tụy, GS Nguyễn Huệ Chi, GS Phạm Duy Hiển, TS Nguyễn Quang A, Nhà văn Trần Nhương, Nhà văn Phạm Xuân Nguyên, TS Nguyễn Xuân Diện, Luật sư Trần Vũ Hải, anh Nguyễn Quang Thạch,Nguyễn Văn Phương, GS Chu Hảo,LS Lê Hiếu Đằng, Nhà văn Nguyên Ngọc, GS Ngô Đức Thọ, Trần Kim Anh, Bà Cao thị Vũ Anh,TS Hoàng Hồng Cầm, Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh …cùng ký tên trong một kiến nghị yêu cầu bộ Ngoại Giao cung cấp thông tin những chi tiết đồng thuận trong cuộc họp song phương VN+TQ của thứ trưởng Hồ Xuân Sơn và Ủy viên quốc vụ viện Trung Quốc Đới Bình Quốc về Biển Đông hôm 25 tháng 6, dù cất công đến tận khuôn viên bộ ngoại giao nhưng chắc cũng “Biết rồi! khổ lắm! hỏi mãi! có đảng, nhà nước lo” nên không ai mời, ai tiếp?
Không như trượng phu có “số má”, là thất phu nên khi thể hiện cái hữu trách của mình, nhiều người dân và bạn trẻ biểu tình yêu nước bị người ta sử dụng “Vũ Phu” để giành lấy cái độc quyền “hữu trách” bị săn sóc bất nhã hơi nhiều, toàn là những đòn thế bí hiểm như bắt súc vật khó lòng cựa quậy, nào là:

(Tiều phu bóp cổ) (Công phu dép cước) (Tứ phu gia hình)
Nhiều vị bô lão cao niên chứng nhân hai ba chế độ cứ vỗ trán nhức đầu: Lạ thiệt! toàn là dân mình với nhau, mũi tẹt da vàng chớ có thằng Tây mũi lõ nào đâu? nhưng sao nó giống hệt hồi quá khứ thực dân bố ráp người yêu nước quá trời, đồng chủng tộc, ngôn ngữ nhưng nói chuyện với người dân yêu nước bằng vũ phu, bằng bạo lực thì có khác gì… xâm lược tự do dân chủ của dân!!.
Cứ hết đợt này tới đợt khác nhà nước hô hào toàn dân học tập nghị quyết của đảng: Toàn dân “Thi Đua Yêu Nước” nhưng khi nhiều người cụ thể lòng yêu nước “thiệt tình” thì lại bị vũ phu, thượng cẳng chân, hạ cẳng tay cũng “thiệt tình” không kém, hình như mấy ổng chỉ khoái cái kiểu yêu nước “an toàn” yêu nước gián tiếp, hết thảy vô hội trường ngồi, nghe cán bộ MTTQ đọc diễn văn “Yêu nước có định hướng, có mô hình”… rồi thì yêu nước càng nhiều thì ráng vỗ tay càng lớn, càng lâu càng tốt! chớ mấy ổng “nhạy cảm” không ưa cái kiểu yêu nước phóng khoáng tự do như mây bốn phương trời, hồn nhiên tự nguyện nhưng không biết đường nào mà lần, sơ sẩy nó kéo nhau hội tụ tầng tầng lớp lớp thành giông bão, từ yêu nước rủ nhau yêu thêm đủ thứ nữa, Nước thì nó yêu còn mình thì nó ghét, nó làm nên một cơn hồng thủy, tới lúc đó không biết có leo kịp lên nóc lăng Ba Đình trú thân không? Chắc mấy ổng ám ảnh như vậy? nên cứ thắp tha thắp thỏm chứ quang minh chính trực, chính quyền là của dân do dân trực tiếp phúc quyết đồng thuận thì làm sao có cái chuyện tréo cẳng ngổng: Nhà nước và nhân dân đối đầu vì “Yêu Nước” nghịch lý như vậy?.
Mấy vị hưu trí từng là cán bộ cách mạng lão thành tiền khởi nghĩa, cựu tù nhân của thực dân, còn chắc lưỡi ngao ngán hơn: Hồi đó yêu nước chống thực dân bị tụi Tây bắt ở tù coi vậy mà sướng hơn bây giờ! Nó bắt giữ mình đa phần là đâu ra đó, căn cứ trên pháp luật thuộc địa, giam nhà lao nào, tù biệt xứ nơi đâu, tội trạng gì, rạch ròi, thậm chí chưa ra tòa mình cũng có thể ước lượng được mức án không sai lệch là mấy vì dù là tòa án thực dân nhưng nó xét xử mình đúng theo luật của nó – Còn bây giờ thì... thua, bằng chứng rõ như ban ngày là trường hợp ông Nguyễn Văn Hải tự là Điếu Cày chấp hành xong bản án 30 tháng tù giam với tội danh mặc định “Trốn thuế”. Kể từ ngày bị bắt giam 19 tháng 4 năm 2008 đến nay thời gian mãn hạn tù đã hết từ lâu, không thấy chồng về, vợ ông, bà Dương Thị Tân làm đơn khiếu nại thì được “pháp luật” trả lời “tạm giam tiếp tục”, nhưng chưa biết tội gì? Tin tức ông Hải bị “cụt hết một tay” cũng không được trả lời phủ nhận hay xác nhận và vợ ông cũng không được phép thăm nuôi chăm sóc chồng. Toạt nghe cứ tưởng chuyện tiếu lâm nói nghe cho vui, nhưng hóa ra nó thật còn hơn 100% .
Gần một thế kỷ sau khi quét sạch thực dân giành lại độc lập, nhân dân VN trong và ngoài nước phải thảng thốt kêu lên: “Pháp Luật của nhà nước Pháp Quyền Cộng Sản XHCN/VN thành viên LHQ là như thế này sao!?” Vậy thì qua vụ việc điển hình của ông Điếu Cày, những ngày gần đây hàng loạt việc bắt giữ (hay bắt cóc) không có lý do hàng chục thanh niên trong các hội đoàn giáo xứ Công Giáo (danh sách tên tuổi đăng trên các trang web lề trái) dù người nhà, gia đình lùng tìm nhưng vẫn biệt vô âm tín khiến dân oan than thở: đây là “Pháp Quyền” hay quyền lực của thầy pháp âm binh?
Quốc Gia Hưng Vong Thất Phu Hữu Trách – Hình như không còn cái nghĩa cao quí thuộc trách nhiệm của mọi người dân như tiền nhân giáo huấn, mà giờ nó thuộc đặc quyền của một đám “vũ phu” theo đóm ăn tàn. Chúng vũ phu với nhân dân yêu nước đồng nghĩa tiếp tay cho mưu đồ bán nước.
Chưa đến lượt thất phu, trước đó, những bậc “Trượng Phu” – vì trượng phu toàn cành đa, cành đề nên được nhẹ tay, cảnh cáo (bằng văn phu) cái công văn Quyết định 97/2009/QĐ-TTg về việc ban hành Danh mục các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) được ông Thủ tướng ký với nội dung hướng dẩn phản biện có điều kiện, có xin phép, làm cho một loạt các vị trượng phu tên tuổi trí thức lớn trong Hội đồng Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) gồm 16 vị, như các ông: Hoàng Tụy, Nguyễn Quang A, Phan Đình Diệu, Tương Lai, Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan, Nguyễn Trung, Nguyên Ngọc..v.v phải ngậm ngùi “gác kiếm” tự giải thể để phản đối, bởi gươm thiêng mài bao năm là mong có dịp giúp nước giúp dân giờ chỉ cho phép chém “ruồi” thì còn gì là gươm?.
Rồi đây nữa – cũng vì trượng phu hữu trách ấy mà một loạt nhân sĩ trí thức các ông: GS Hoàng Tụy, GS Nguyễn Huệ Chi, GS Phạm Duy Hiển, TS Nguyễn Quang A, Nhà văn Trần Nhương, Nhà văn Phạm Xuân Nguyên, TS Nguyễn Xuân Diện, Luật sư Trần Vũ Hải, anh Nguyễn Quang Thạch,Nguyễn Văn Phương, GS Chu Hảo,LS Lê Hiếu Đằng, Nhà văn Nguyên Ngọc, GS Ngô Đức Thọ, Trần Kim Anh, Bà Cao thị Vũ Anh,TS Hoàng Hồng Cầm, Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh …cùng ký tên trong một kiến nghị yêu cầu bộ Ngoại Giao cung cấp thông tin những chi tiết đồng thuận trong cuộc họp song phương VN+TQ của thứ trưởng Hồ Xuân Sơn và Ủy viên quốc vụ viện Trung Quốc Đới Bình Quốc về Biển Đông hôm 25 tháng 6, dù cất công đến tận khuôn viên bộ ngoại giao nhưng chắc cũng “Biết rồi! khổ lắm! hỏi mãi! có đảng, nhà nước lo” nên không ai mời, ai tiếp?
Không như trượng phu có “số má”, là thất phu nên khi thể hiện cái hữu trách của mình, nhiều người dân và bạn trẻ biểu tình yêu nước bị người ta sử dụng “Vũ Phu” để giành lấy cái độc quyền “hữu trách” bị săn sóc bất nhã hơi nhiều, toàn là những đòn thế bí hiểm như bắt súc vật khó lòng cựa quậy, nào là:

(Tiều phu bóp cổ) (Công phu dép cước) (Tứ phu gia hình)
Nhiều vị bô lão cao niên chứng nhân hai ba chế độ cứ vỗ trán nhức đầu: Lạ thiệt! toàn là dân mình với nhau, mũi tẹt da vàng chớ có thằng Tây mũi lõ nào đâu? nhưng sao nó giống hệt hồi quá khứ thực dân bố ráp người yêu nước quá trời, đồng chủng tộc, ngôn ngữ nhưng nói chuyện với người dân yêu nước bằng vũ phu, bằng bạo lực thì có khác gì… xâm lược tự do dân chủ của dân!!.
Cứ hết đợt này tới đợt khác nhà nước hô hào toàn dân học tập nghị quyết của đảng: Toàn dân “Thi Đua Yêu Nước” nhưng khi nhiều người cụ thể lòng yêu nước “thiệt tình” thì lại bị vũ phu, thượng cẳng chân, hạ cẳng tay cũng “thiệt tình” không kém, hình như mấy ổng chỉ khoái cái kiểu yêu nước “an toàn” yêu nước gián tiếp, hết thảy vô hội trường ngồi, nghe cán bộ MTTQ đọc diễn văn “Yêu nước có định hướng, có mô hình”… rồi thì yêu nước càng nhiều thì ráng vỗ tay càng lớn, càng lâu càng tốt! chớ mấy ổng “nhạy cảm” không ưa cái kiểu yêu nước phóng khoáng tự do như mây bốn phương trời, hồn nhiên tự nguyện nhưng không biết đường nào mà lần, sơ sẩy nó kéo nhau hội tụ tầng tầng lớp lớp thành giông bão, từ yêu nước rủ nhau yêu thêm đủ thứ nữa, Nước thì nó yêu còn mình thì nó ghét, nó làm nên một cơn hồng thủy, tới lúc đó không biết có leo kịp lên nóc lăng Ba Đình trú thân không? Chắc mấy ổng ám ảnh như vậy? nên cứ thắp tha thắp thỏm chứ quang minh chính trực, chính quyền là của dân do dân trực tiếp phúc quyết đồng thuận thì làm sao có cái chuyện tréo cẳng ngổng: Nhà nước và nhân dân đối đầu vì “Yêu Nước” nghịch lý như vậy?.
Mấy vị hưu trí từng là cán bộ cách mạng lão thành tiền khởi nghĩa, cựu tù nhân của thực dân, còn chắc lưỡi ngao ngán hơn: Hồi đó yêu nước chống thực dân bị tụi Tây bắt ở tù coi vậy mà sướng hơn bây giờ! Nó bắt giữ mình đa phần là đâu ra đó, căn cứ trên pháp luật thuộc địa, giam nhà lao nào, tù biệt xứ nơi đâu, tội trạng gì, rạch ròi, thậm chí chưa ra tòa mình cũng có thể ước lượng được mức án không sai lệch là mấy vì dù là tòa án thực dân nhưng nó xét xử mình đúng theo luật của nó – Còn bây giờ thì... thua, bằng chứng rõ như ban ngày là trường hợp ông Nguyễn Văn Hải tự là Điếu Cày chấp hành xong bản án 30 tháng tù giam với tội danh mặc định “Trốn thuế”. Kể từ ngày bị bắt giam 19 tháng 4 năm 2008 đến nay thời gian mãn hạn tù đã hết từ lâu, không thấy chồng về, vợ ông, bà Dương Thị Tân làm đơn khiếu nại thì được “pháp luật” trả lời “tạm giam tiếp tục”, nhưng chưa biết tội gì? Tin tức ông Hải bị “cụt hết một tay” cũng không được trả lời phủ nhận hay xác nhận và vợ ông cũng không được phép thăm nuôi chăm sóc chồng. Toạt nghe cứ tưởng chuyện tiếu lâm nói nghe cho vui, nhưng hóa ra nó thật còn hơn 100% .
Gần một thế kỷ sau khi quét sạch thực dân giành lại độc lập, nhân dân VN trong và ngoài nước phải thảng thốt kêu lên: “Pháp Luật của nhà nước Pháp Quyền Cộng Sản XHCN/VN thành viên LHQ là như thế này sao!?” Vậy thì qua vụ việc điển hình của ông Điếu Cày, những ngày gần đây hàng loạt việc bắt giữ (hay bắt cóc) không có lý do hàng chục thanh niên trong các hội đoàn giáo xứ Công Giáo (danh sách tên tuổi đăng trên các trang web lề trái) dù người nhà, gia đình lùng tìm nhưng vẫn biệt vô âm tín khiến dân oan than thở: đây là “Pháp Quyền” hay quyền lực của thầy pháp âm binh?
Quốc Gia Hưng Vong Thất Phu Hữu Trách – Hình như không còn cái nghĩa cao quí thuộc trách nhiệm của mọi người dân như tiền nhân giáo huấn, mà giờ nó thuộc đặc quyền của một đám “vũ phu” theo đóm ăn tàn. Chúng vũ phu với nhân dân yêu nước đồng nghĩa tiếp tay cho mưu đồ bán nước.
Thứ Ba, 6 tháng 9, 2011
by LTSA
America, the Beautiful
ĐIỆP-MỸ-LINH
Trong chuyến du hành nội địa, tình cờ tôi được ngồi cạnh hai thanh
niên. Sau vài câu xã giao tôi được biết người anh tên Mike và người em
tên Jack. Jack có mái tóc vàng như tơ và mái tóc đó được cắt và chải giống
y mái tóc của Justin Bieber – một nghệ sĩ rất trẻ và đầy tài năng của nền
nhạc trẻ Canada. Mike có khuôn mặt tương tự như khuôn mặt của cựu phó
Tổng Thống Hoa-Kỳ, Dan Quayle, và màu mắt của Mike xanh như màu
nước của hồ Diablo.
Tôi không hiểu vì cả hai anh em đều có nụ cười vô tư và nói chuyện
rất lễ phép hay là vì bộ quân phục rằn ri của Mike mà tôi cảm thấy có rất
nhiều thiện cảm với hai cậu thanh niên này. Tôi hỏi hai anh em đi về đâu?
Jack bảo Jack muốn tiễn Mike một đoạn đường. Tôi hỏi tiễn Mike đi đâu?
Jack quay nhìn Mike, dường như Jack không muốn nhắc đến địa danh nào
đó mà Mike sẽ phải đến. Như hiểu ý cậu em, Mike đáp lời tôi: “Tôi đi
Iraq.” Tôi bàng hoàng nhìn Mike. Như nhận ra niềm xúc động trên mặt
tôi, Mike vói tay sang phía tôi, vỗ vỗ trên cánh tay của tôi: “Không sao đâu,
bà đừng lo. Tôi đã tham chiến tại Iraq hai lần rồi, đây là lần thứ ba.” Tôi
muốn nói với Mike nhiều điều nhưng sao tôi cứ nghẹn lại như sắp khóc,
nói không thành lời!
Để nén xúc động, tôi quay mặt ra cửa sổ phi cơ. Chờn vờn trong những
áng mây trắng như bông gòn, tôi tưởng như tôi có thể thấy lại tấm ảnh
và bản tin về sự “trở về” của First Lieutenant Paul Magers! Paul chết khi
chàng chỉ 25 tuổi và mới đến Việt-Nam có hai tuần! Paul biết quê tôi chỉ
có hai tuần nhưng thân xác của Paul thì ở lại đó đến gần bốn mươi năm!
Trong ảnh, nụ cười của Paul cũng rạng rỡ, vô tư như nụ cười của Mike.
Nụ cười đó mà biết hận thù ai! Ánh mắt đó mà muốn bắn giết ai! Bởi vậy
mới có một chiến binh Hoa-Kỳ – James Lenihan – trong trận Thế Giới Đại
Chiến II, đã bắn kẻ thù xong thì gục đầu bên xác kẻ thù mà khóc:
I shot a man yesterday
And much to my surprise,
The strangest thing happened to me
I began to cry.
He was so young, so very young
And Fear was in his eyes.
He had left his home in Germany
And came to Holland to die
……
I knelt beside him
And held his hand
I begged his forgiveness
Did he understand?
It was the War
And he was the enemy
If I hadn’t shot him
He would have shot me.
I saw he was dying
And I called him “Brother”
But he gasped out one word
And that word was “Mother.”…
Đang chìm đắm trong dòng suy tư, tôi choàng tĩnh khi tiếng của trưởng
phi hành đoàn thông báo phi cơ sẽ đáp xuống phi trường trong vài phút.
Khi chia tay tại nơi lãnh hành lý, tôi nắm tay Mike, nói với Mike những
lời biết ơn rất thành thật và sâu xa. Mike cười: “Đó là bổn phận của chúng
tôi.”
Nhìn dáng Mike xa dần tôi cảm nhận được nỗi lo âu, niềm thương cảm
đang dâng lên chất ngất trong hồn tôi. Khung cảnh này và trạng thái tình
cảm này khiến tôi nhớ lại những giờ phút xốn xang, hoang mang, lo sợ của
tôi tại phi trường Frankfurt.
Lý do đưa tôi vào trạng thái tình cảm phức tạp đó khởi nguồn từ một
chuyến du lịch xa…
*
*
*
Vừa rời chiếc xe buýt của công ty du lịch Trafalgar, tôi chú ý ngay đến
một nhóm đàn ông lớn tuổi, người Nga, ngồi bên trái lối đi, cạnh con kinh
đào. Mỗi ông mang một nhạc cụ nhà binh như saxophone, trumpet, clarinet,
v.v. Không hiểu có phải vì nghe những tiếng thầm thì bằng Anh ngữ của
du khách hay không mà bỗng nhiên ban nhạc đều đứng lên, cử hành Quốc
Ca Hoa-Kỳ.
Nhóm du khách và tôi đều dừng bước, ngạc nhiên, vì đây là lãnh thổ
của Nga. Du khách Mỹ để tay phải lên lồng ngực bên trái. Nhìn các nhạc
công, tôi nghĩ, có lẽ họ là những người lính trẻ nhất của trận thế chiến thứ
II. Tôi cảm thấy nao nao buồn. Những người lính già nua, yếu đuối đang
cố kéo chút hơi tàn để tìm sự sống qua bản Quốc Ca của kẻ thù xưa, vì
lương hưu của cựu chiến binh Nga rất thấp!
Bản nhạc dứt. Du khách vui vẻ lấy tiền cho vào cái xắc nhỏ được đặt
trước mặt các nhạc công. Các nhạc công ngồi xuống, đồng tấu tiếp bản
America, the Beautiful. Tôi đứng lặng, lòng đầy xúc động.
Niềm xúc động trong tôi lần này cũng dạc dào như năm 1977, khi đứa
con gái lớn của tôi, Xuân-Nguyệt, lúc đó là học sinh lớp 8, được trao tặng
giải nhất toàn tiểu bang Arizona về bài luận văn “What Makes America
Beautiful?”
Gia đình tôi được giúp phương tiện để đưa Xuân-Nguyệt từ Yuma đến
Phoenix nhận phần thưởng trong một buổi lễ vô cùng long trọng. Ðó là lần
đầu tiên tôi nghe bản America, the Beautiful được cả hội trường đồng ca.
Tự dưng tôi khóc. Nhưng rồi âm điệu và lời ca của bản nhạc khiến lòng tôi
lắng xuống. Tôi trầm tĩnh lại để nhận những vòng tay thân ái và những lời
chúc mừng của những người Mỹ quanh tôi. Theo những lời chúc mừng của
những người chưa quen này, tôi hiểu những người này nghĩ rằng tôi xúc
động vì thành quả của con gái tôi. Ðiều đó chỉ đúng một phần; vì, ngoài sự
hãnh diện của một người Mẹ, những giọt nước mắt của tôi còn mang nặng
niềm âu lo và sự lạc lõng trước một tương lai đầy thử thách mà tôi không
hiểu tôi có thể vượt qua được hay không!
Hơn 26 năm qua, với tất cả hy sinh và nỗ lực, gia đình tôi đã vượt được
nhiều trở ngại. Những đứa con, dâu và rể của tôi hiện đang đem tất cả khả
năng và kiến thức đã học hỏi, đã hấp thụ tại đất nước này để góp công xây
dựng một nơi mà ai cũng hơn một lần ước mơ được nhìn tận mắt sự văn
minh và phồn thịnh.
Riêng tôi, ngoài sự văn minh và phồn thịnh, nước Mỹ còn có những
công dân với trái tim rất vỹ đại.
Chỉ có những trái tim vỹ đại mới có thể thực hiện những chuyến máy
bay đầy thực phẩm, thuốc men cùng những phái đoàn y tế tình nguyện
sang Phi-Châu cứu đói. Chỉ có những trái tim vỹ đại mới sáng tác và hát say
sưa nhạc bản We Are The World để quyên góp hiện kim gửi sang Phi-Châu
cứu đói. Chỉ có những trái tim vỹ đại mới đưa nhiều phái đoàn y dược sỹ,
dụng cụ y tế sang Nga cứu giúp khi lò nguyên tử của Nga, tại Chernobyl,
bùng nổ. Chỉ có những trái tim vỹ đại mới có thể thực hiện những chuyến
bay khẩn cấp để di chuyển hằng mấy trăm em bé mồ côi ra khỏi Việt-Nam
vào cuối tháng Tư năm 1975. Chỉ có những trái tim vỹ đại mới cứu giúp
hết đợt di dân này đến đợt di dân khác. Trong số triệu triệu di dân đó có gia
đình tôi. Gia đình xin tôi biết ơn:
*- Cựu Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến và bà Michael Z. Smith, người
đã bảo trợ chúng tôi từ Camp Pendleton. Ông bà Smith có ba người con:
Michael, hiện là Ðại-Úy Không Quân Hoa-Kỳ và cô con gái nuôi, người
Nhật, Kristin cùng với bé Heather. Hiện nay ông Smith là một mục sư ở
California.
*- Ông bà Collins. Ông Collins từng tham chiến tại Việt-Nam. Ông
được một gia đình Việt-Nam che chở trong khi Việt-Cộng ruồng bắt. Ông
Collins bảo vì Ông mang ơn người Việt cho nên Ông thương và muốn giúp
đỡ người Việt với tất cả nhiệt tình. May mắn cho chúng tôi, vì chúng tôi là
gia đình Việt-Nam duy nhất tại thành phố Yuma.
*- Ông bà Collard, người đã thật lòng thương yêu gia đình tôi như ruột
thịt. Ông bà thường vui vẻ và hãnh diện giới thiệu với mọi người rằng
chúng tôi là con và cháu của ông bà.
Tôi không hề biết ông Collard là một cựu chiến binh thế chiến thứ II;
vì không bao giờ Ông nhắc nhở hoặc đề cập đến cuộc chiến khốc liệt đó.
Ðến khi Ông Collard qua đời, người bạn đồng ngũ của Ông đọc điếu văn,
tôi mới biết ông Collard có mặt trong trận Trân-Châu-Cảng. Chính ông
Collard đã cứu giúp nhiều người, kể cả người đang đọc điếu văn, rời khỏi
chiến hạm... và Ông là người sau cùng.
Sự hiểu biết của tôi về quân nhân Hoa-Kỳ trong trận Trân-Châu-Cảng
hoặc Normandy chỉ căn cứ theo sách vở và phim ảnh nên rất mơ hồ, rất
hạn hẹp. Nhưng sự hiểu biết của tôi về sự hy sinh và lòng quả cảm của
người lính Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt-Nam thì khá tường tận - tường
tận hơn cả những cuốn sách viết về chiến tranh Việt-Nam mà tác giả chưa
bao giờ có mặt tại chiến trường Việt-Nam. Do đó, tôi nhận thấy, dù cuộc
chiến kết thúc một cách tức tưởi, thiếu công bằng, nhưng cũng phải chấm
dứt; vì máu của người Việt - cả hai miền Nam Bắc - và máu của người Mỹ
đã chan hòa trong từng thước đất nơi quê hương nghèo khó của tôi.
Sau khi miền Nam bị bức tử, hạm đội Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Hòa
đã di tản cả trăm ngàn người Việt thoát khỏi hiểm họa Cộng-sản. Nhưng
nếu không có sự hiện diện của Ðệ-Thất Hạm-Ðội Hoa-Kỳ tại Thái-Bình-
Dương cũng như không có sự giúp đỡ vô điều kiện của nhân dân Hoa-Kỳ
thì số người tỵ nạn khổng lồ của chúng tôi sẽ về đâu?
Nương vào lòng nhân ái của người Mỹ, chúng tôi vào Mỹ với thái độ
biết ơn và lòng tự tin để vươn lên.
Người Việt, qua bao thử thách cam go, đã vươn lên, đã góp công xây
đắp và bảo vệ đất nước này.
Khi cuộc chiến Trung-Ðông bùng nổ, năm 1992, tôi đã đau buồn và
lo sợ khi đưa tiễn một độc giả trẻ và thân thiết nhất của tôi, Hải-Quân
Ðại-Úy Hoàng-Quốc-Tuấn, tòng sự trên hàng không mẫu hạm USS
Independence, ra khơi, tiến về vùng lửa đạn của Persian Gulf. Trong lá thư
gửi về từ vùng Vịnh, Tuấn viết: “... Người lính Hoa-Kỳ được huấn luyện
để bảo vệ Hòa-Bình chứ không phải để gây chiến ...” Theo tinh thần cao cả
đó, biết bao thanh niên nam nữ Vietnamese-American đã tốt nghiệp hoặc
đang thụ huấn tại các quân trường lừng danh của Hoa-Kỳ như West Point
Academy, Naval Academy, Air Force Academy, v. v...
Ngoài những tham gia đáng kể về quân sự, giới trẻ Việt-Nam cũng đã
và đang xây đắp đất nước này trong tất cả mọi lãnh vực như truyền thông,
giáo dục, y tế, khoa học, khoa học không gian, v. v.
Giới trẻ Việt-Nam có những đóng góp lớn lao như vậy thì những nỗ lực
của thế hệ di dân Việt-Nam đầu tiên cũng không nhỏ. Thử nhìn bản đồ của
các thành phố lớn như Los Angeles, San José, Houston, v. v... thì sẽ thấy:
Từ những vùng đất hoang tàn cách nay 20 năm, bây giờ đã trở thành những
vùng thương mại sầm uất do người Việt khai thác. Và trong các hãng,
xưởng, văn phòng, biết bao người mang họ Nguyễn, Lê, Trần ...
Khi những đóng góp của người Việt vào đất nước này mỗi ngày mỗi
thăng tiến thì bỗng dưng sự phá hoại từ đâu ùa đến, phủ chụp xuống ngay
lòng đất nước mà gia đình tôi đã âm thầm nhận là quê hương thứ hai.
Tin Nữu-Ước và Hoa-Thịnh-Ðốn bị máy bay tấn công đến với tôi trong
lúc tôi cùng nhóm du khách dùng cơm trưa sau những giờ thăm viếng thành
phố Minks. Tôi ngồi bất động, lòng đầy phẫn uất. Nếu bảo rằng tôi không
lo sợ thì không hẳn đúng; nhưng niềm lo sợ trong tôi bây giờ khác hẳn
với sự hãi sợ của đứa bé gái, giữa thập niên 40, theo Cha Mẹ tản cư và
thấy những chiếc máy bay mang cờ tam tài (cờ Pháp) bắn phá những làng
mạc xác xơ. Những chiếc máy bay đó bắn vào tất cả những vật thể nào
di động; vì vậy nông dân không giám ra đồng, súc vật bị giết hại, sinh sản
không kịp và con người thì đói và thiếu thốn mọi bề.
Hơn hai mươi năm sống yên lành tại miền Nam nước Việt và hơn hai
mươi năm sống thanh bình trên đất Mỹ, tôi cứ ngỡ rằng bom đạn đã xa
tôi, không còn cơ hội làm tôi sợ hãi nữa. Nhưng không! Trên màn ảnh TV,
một tòa nhà của The World Trade Center bốc khói và một chiếc máy bay
lao thẳng vào tòa nhà thứ hai. Cả hai tòa nhà lần lượt sụp xuống trong khi
niềm phẫn uất trong tôi dâng cao như những cuộn khói đen ngòm thoát
ra từ The Twin Towers. Tình cảm trong tôi chẳng khác gì nỗi đau xót của
tôi cách nay hơn một phần tư thế kỷ, khi Việt-Cộng pháo kích ồ ạc vào
Saigon.
Là một phụ nữ được giáo dục chỉ để nuôi con và phục tòng chồng, ngày
đó, trước thảm trạng của quê hương Việt-Nam, tôi chỉ biết viết những
dòng ca ngợi tinh thần chiến đấu can cường của Người Lính Việt-Nam
Cộng-Hòa và tôn vinh lòng hy sinh vô bờ của những người Mẹ, người vợ
và người con.
Bây giờ, trước sự đổ nát và thiệt hại nhân mạng một cách phi lý và tàn
bạo tại Nữu-Ước và Hoa-Thịnh-Ðốn, tâm hồn tôi bị chấn động mạnh và
tôi muốn viết ra những ý nghĩ thầm kín của tôi về một nơi chốn mà gia
đình tôi âm thầm thọ ơn. Ý nghĩ này làm cho cuộc du lịch giảm thiểu nhiều
phần thích thú. Cuộc du lịch này chỉ vì sự tò mò của tôi, muốn tìm hiểu về
một nước Nga rộng lớn.
Nước Nga rộng lớn nhưng môi người Nga không đàn hồi cho nên người
Nga không biết cười. Thức ăn của người Nga thường là những miếng thịt
dai dừ, mà không ai đoán được và cũng không ghi trong thực đơn là thịt
gì, được tẩm trứng hoặc bột rồi chiên, không mùi vị, ăn đệm với khoai
tây. Lâu lắm, may ra mới có một bữa thịt gà. Thức ăn của Mỹ như các loại
kẹo, ice cream và sản phẩm của hãng Coca Cola được bày bán khắp nơi.
Tôi cũng thấy vài nhà hàng McDonald’s và Pizza Hut. Sản phẩm tiểu công
nghệ của Nga như thủy tinh và đồ gỗ thì tuyệt đẹp, vì được làm bằng tay.
Hệ thống Metro của Nga tại Moscow rất tối tân, dù đã được hoàn tất cách
nay nửa thế kỷ. Cứ 30 giây, (vâng, 30 giây) thì một chuyến tốc hành đến
và một chuyến đi ngược lộ trình với chiếc kia. Trong sinh hoạt hằng ngày,
người Nga không ăn mặc giản dị, xềnh xoàng như người Mỹ. Những buổi
trình diễn ballet, skate on ice làm tôi say mê bao nhiêu thì những màn vũ
dân tộc và những bản dân ca cũng khiến hồn tôi giao động bấy nhiêu. Âm
hưởng dân ca của Nga mang nặng niềm thống thiết của dân du mục.
Dân Nga rất kiêu hãnh về Red Square, vì đó là biểu tượng của thủ đô.
Khi thấy trong hình và phim ảnh, tôi cũng nghĩ Red Square rất vỹ đại.
Nhưng sau khi thấy tận mắt, tôi nghĩ, không phải vì định kiến chính trị,
Red Square không là gì cả, vì thiếu sự hài hòa giữa thiên nhiên và nhân tạo.
Khu vực Red Square được lát bằng gạch, trên triền đồi thoai thoải, diện
tích khoảng một phần ba của công trường Thiên-An-Môn. Phần cao nhất
của Red Square là tòa nhà của chính phủ và mộ của Lenin. Chân đồi bên
này là ngôi nhà thờ với những chóp cao hình tròn, chạm trổ và sơn phết rất
rực rỡ. Chân đồi bên kia chỉ là một lối đi rộng lớn. Lối đi này, vào những
dịp diễn hành để phô trương lực lượng, được Hồng Quân Nga cũng như
thiết giáp và các cơ giới nặng dùng làm lối ra. Bây giờ, trên lối ra này,
người ta xây một ngôi nhà trên cao, phía dưới để trống vừa đủ cho bộ hành
và xe hơi nhỏ ra vào. Lối vào Red Square, phía nhà thờ, cũng được chận lại
bằng nhiều dãy trụ xi-măng, với mục đích không cho thiết giáp và cơ giới
nặng vào điện Cẩm-Linh.
Trước điện Cẩm-Linh, ban đêm, trong khi những cặp tình nhân thủ
thỉ bên nhau những lời mặn nồng thì những người Nga lớn tuổi lại chậm
bước, lòng hướng về một thủ đô đã đổi tên: St. Petersburg.
St. Petersburg là một thành phố mang nặng di tích lịch sử của Nga-
Hoàng. St. Petersburg không chinh phục được cảm tình của tôi nếu không
có ngôi nhà thờ cổ còn hằn vết đạn của thời Hitler xâm lược và những
bức tranh đầy sinh động của Ivan Aivazovsky, Wassily Kandinsky, Pavel
Filonov, v. v... Những dòng sông ở St. Petersburg đã để lại trong hồn tôi rất
nhiều lưu luyến. Những dòng sông im lìm, nhẫn nhục, chỉ biết len lõi trong
từng ngõ ngách của thành phố trước sự kiêu căng thách đố âm thầm nhưng
lố bịch của từng dãy lâu đài nguy nga. Lúc xuôi theo giòng Neva, trong
khi mọi người lưu ý đến mấy chiếc cầu dựng đứng, vào những giờ nhất
định, để tàu thủy có thể đi qua, thì tôi chỉ nghĩ đến những gì tôi đã thấy trên
đoạn đường sau khi vào biên giới Nga.
Trên đoạn đường loang lở đó tôi đã thấy những xóm nhà lụp xụp. Thỉnh
thoảng tôi mới thấy một chiếc xe hơi cũ thật cũ đậu dưới tàng cây, không
biết xe còn xử dụng được hay không. Nơi khoảng sân hẹp, mỗi nhà thường
cất một cái chòi nhỏ, mái và chung quanh được bọc ny-lông, để trồng hoa
màu. Tôi cũng thấy người dân quê canh tác bằng tay chứ không bằng máy.
Những hình ảnh nghèo khó này cứ theo tôi mãi. Nhưng khi đến Minsk,
mọi hình ảnh đều bị đẩy lùi về quá khứ, chỉ còn trong tôi nỗi xót xa của
một người vừa biết nơi mình nương náu hơn hai mươi năm qua đang bị
xâm phạm nặng nề! Từ Minsk đến Riga, tôi thấy các thành phố đều treo
cờ rũ và mọi người dân địa phương có vẻ sốt ruột, dán mắt vào TV hoặc
ngóng tin tức từng giờ. Ðiều làm cho tôi xúc động nhất là hôm 14-09, lúc
12 giờ trưa, tại khách sạn Scandic thuộc thành phố Helsinki của nước
Finland, ban giám đốc đã yêu cầu mọi người đứng nghiêm, dành năm phút
mặc niệm để tưởng nhớ những nạn nhân của khủng bố tại Hoa-Kỳ.
Trong khi đứng nghiêm tôi vẫn bị những lời tường trình của xướng
ngôn viên đài truyền hình CNN, từ chiếc TV lớn treo nơi góc phòng khánh
tiết, chi phối. Tôi đau đớn, xốn xang trong lòng như ngày xưa, năm 1968,
hay tin Việt-Cộng tấn công và cưỡng chiếm thành phố Huế, quê Ngoại của
tôi.
Sau khi Huế được quân lực Việt-Mỹ giải tỏa, tôi nôn nóng muốn trở
về để nhìn sự tan thương và đổ nát của quê Ngoại. Bây giờ, tại phi trường
Helsinki đợi máy bay để sang Frankfurt, tôi cũng nôn nóng muốn trở về
một nơi mà tôi gọi là nhà – Home. Nhưng bà nhân viên hãng hàng không
Lufthansa, sau khi nhìn vé máy bay và thấy rõ ràng tôi không phải là một
người da trắng, tóc màu, đã khẳng định:
- Bà có vé. Tôi sẽ ghi tên bà vào danh sách, nhưng sẽ không có chỗ cho
bà. Bà phải chờ, vì đây là chuyến phản lực 747 đầu tiên từ Ðức vào lục địa
Hoa-Kỳ.
- Vé của tôi mua từ lâu, tại sao bây giờ tôi phải chờ? Và chờ đến bao
giờ?
- Rất tiếc, tôi không biết bà phải chờ đến bao giờ. Khi nào có chỗ chúng
tôi sẽ thông báo cho bà. Hiện tại, chúng tôi có rất nhiều hành khách ứ đọng
từ mấy ngày qua. Và chuyến bay này, từ Helsinki đến Frankfurt để về
Nữu-Ứớc, chỉ dành ưu tiên ...
Không đủ kiên nhẫn chờ bà ấy nói hết câu, tôi cắt ngang:
- Tại sao tôi mới rời nhà chỉ có hai tuần mà nay tôi không thể trở về,
hả?
Bà ấy ngạc nhiên, nhìn tôi, gằn giọng:
- Nhà?
Tôi đáp với giọng nghèn nghẹn như sắp khóc:
- Vâng. Nhà của tôi.
- Cho tôi xem thẻ thông hành.
Chỉ nhìn thoáng qua Passport, bà ấy thay đổi thái độ ngay:
- Vâng. Bà là công dân Mỹ. Bà ưu tiên đi chuyến bay này.
Tôi cúi xuống xách hành lý, lòng âm thầm tạ ơn nước Mỹ, nơi đã cho
tôi hiểu thế nào là giá trị thực tiễn của tự do, dân chủ và công bằng. Và trên
tất cả mọi điều, nước Mỹ đã cho tôi cơ hội thể hiện tinh thần tự lập của
một phụ nữ./.
ĐIỆP-MỸ-LINH
LOVE
AND APPRECIATION
FOR AMERICA
WITH
ĐIỆP-MỸ-LINH
Translation by Merle L. Pribbenow
(While vacationing in Russia, Điệp-Mỹ-Linh, a member of Ngay Nay’s
editorial staff, watched the television in horror as the terrorist attack on
America unfolded and hijacked commercial aircraft crashed into the World
Trade Center towers in New York and the Pentagon in Washington, D.C.
This short article was written at the airport in Frankfurt, Germany, while
the author was waiting for a connecting flight home to the United States.)
As I stepped out of the Trafalgar Tour Company’s bus, I immediately
noticed a group of old Russian men sitting on the left side of the
entranceway, next to a small canal. Each man was carrying a military
musical instrument – saxophone, trumpet, clarinet, etc. I didn’t know
whether or not they had heard the tourists speaking in English, but suddenly
this little band stood up and began playing the American national anthem.
The entire tour group stopped in surprise, because we were in Russia.
The American tourists among us placed our right hands over our hearts.
Looking at the band as they played, I thought to myself that they might
have been very young soldiers who fought in the Second World War. I was
touched with sadness as I watched these old, weak soldiers trying to use
their failing breath to make a living by playing the national anthem of their
former enemy, because a Russian veteran’s pension is very small.
The music ended. The tourists smilingly dropped money into a small
bag placed in front of the musicians. The musicians sat down and began
playing “America, the Beautiful.” I stood still, extremely moved.
The emotions I was feeling were similar to those that I felt in 1977,
when my oldest daughter, Xuan-Nguyet, then in the 8th Grade, won first
prize in the entire state of Arizona for her essay, entitled “What Makes
America Beautiful?” My family was assisted with transportation to take
Xuan Nguyet from Yuma to Phoenix to receive the award in a wonderful
and solemn ceremony. That was the first time I heard the song “America,
the Beautiful” as the entire audience joined in singing. I suddenly realized
that I was crying. But then the rhythm and the words of the song calmed my
emotions. I regained my composure as I accepted hugs and congratulations
from the Americans standing near me. From the congratulations spoken by
these people whom I had never met before, I realized that they thought I was
crying tears of joy for my daughter’s success. That was true only in part,
because, in addition to a mother’s pride, my tears also reflected my worry
and homesickness as I faced future challenges that I did not know if I could
overcome.
After more than 26 years and after great sacrifices and efforts, my family
has overcome many difficulties. My children and their spouses are now
devoting the abilities and the knowledge they have gained in this nation
to contribute to building a prosperous, educated, and cultured land. As
for myself, in addition to culture and prosperity, I see that the American
people had truly enormous hearts. Only such good, great hearts would have
sent planeloads of medicine and volunteer medical personnel to save the
starving people of Africa. Only such great hearts would have written and
sung a song like “We Are the World” to raise money to send to Africa to
stop starvation. Only great hearts would have sent doctors, pharmacists, and
medical supplies to Russia to help when the Russian reactor at Chernobyl
exploded. Only great hearts would have sent emergency flights to evacuate
orphans from Vietnam in April 1975. Only great hearts would have helped
wave after wave of refugees coming to this country. Among those millions
of refugees were the members of my family. My family is truly grateful to:
*-Retired Marine Corps Major Michael Z. Smith and his wife, who
sponsored us out of the Camp Pendelton refugee camp. Mr. and Mrs. Smith
have three children: Michael, currently a captain in the U.S. Air Force;
Kristin, whom they adopted from Japan; and the youngest girl, Heather. Mr.
Smith is currently a pastor in California.
*-Mr. and Mrs. Collins: Mr. Collins was a Vietnam veteran. A
Vietnamese family hid and supported him when the ..... were hunting for
him. Mr. Collins told us he owed a debt to the Vietnamese people, so he
loved them and wanted to help them with all his heart. This was fortunate for
us, because we were the only Vietnamese family in the city of Yuma.
*-Mr. and Mrs. Collard, who loved my family like their own. They
always happily and proudly introduced us to everyone as their own children
and grandchildren. I was not aware that Mr. Collard had been a veteran of
World War II, because he never once mentioned that terrible war. Only
when Mr. Collard died and a shipmate of his gave the eulogy at his funeral
did I learn that he had been at Pearl Harbor during the Japanese attack.
Mr. Collard had saved many lives, including that of the man who gave the
eulogy, and had been the last man to leave his ship.
My knowledge about U.S. servicemen at Pearl Harbor, Normandy, and
other such battles is very limited, because it is based only on books and
movies. However, my knowledge of the sacrifices and courage of U.S.
soldiers during the Vietnam is rather vast – much better than that of authors
who never saw the war in Vietnam. I believe that, even though the war
ended precipitously and unfairly, it had to come to an end, because so much
Vietnamese blood, from both North and South Vietnam, and American
blood had been shed that it permeated every inch of the ground of my
poverty-stricken country.
After South Vietnam expired, the South Vietnamese Navy evacuated
more than 100,000 Vietnamese, rescuing them from the horrors of
communism. If, however, it had not been for the presence of the U.S. 7th
Fleet in the Pacific, and if we had not received the unconditional support
and assistance of the American people, where would this massive flood of
refugees have gone? Thanks to the humanity of the American people, we
entered the United States with a spirit of gratitude and confidence that we
could recover and rebuild our lives. After untold difficulties and challenges,
the Vietnamese have recovered and have contributred to the building and the
defense of this nation.
When the Gulf War broke out, I was worried and frightened when I said
goodbye to one of my youngest and most beloved readers, Navy Lieutenant
Hoang-Quoc-Tuan, who was serving aboard the aircraft carrier U.S.S.
Independence and sailing off to the battlefront in the Persian Gulf. In a letter
he sent me from the Gulf, Tuan wrote, “…American servicemen are trained
to defend the United States, not to start wars.” Countless Vietnamese-
American young men and women who shared that wonderful spirit have
graduated or are now studying at famous U.S. military academies, like West
Point, the Naval Academy, the Air Force Academy, etc.
In addition to their significant participation in military service,
Vietnamese young people have contributed and continue to build this nation
in every area and facet of society, including the media, education, medicine,
science, space science, etc.
While Vietnamese young people have made such enormous
contributions, the efforts of the first generation of refugees are no less
significant. If one looks at large cities such as Los Angeles, San Jose,
Houston, etc., one will notice that areas that twenty years ago were open
land are now bustling business areas owned and operated by Vietnamese,
and if one looks at the rosters of employees of companies, factories, and
offices throughout the country, one will see countless people with last names
of Nguyen, Le, and Tran.
As contributions to this country by Vietnamese continue to grow,
suddenly sabotage and terror struck right in the heart of the nation that
my family had now taken as our second homeland. The news about the
attacks on New York and Washington using hijacked airliners arrived as
I was eating lunch with a group of tourists after hours of sightseeing. I sat
motionless; my heart filled with rage. Not that I was not afraid, but the fear
and worry I felt was completely different than the terror of a young girl who
had to flee home with her parents as they saw strange aircrafts with tricolor
markings [French aircrafts] bombing and strafing their poor village. The
aircrafts attacked anything that moved, so the people were afraid to go out
to work on the fields. The livestock were slaughtered, leaving the people to
starve and to lack even the most basic necessities of life.
After living for twenty-five quiet years in South Vietnam and more
than twenty years of peace in America, I thought I had nothing to fear from
bombs and shells anymore. But no! On the TV screen, one tower of the
World Trade Center belched smoke as another airplane flew straight into the
second tower. Both towers collapsed, and the anger in me grew apace with
the black columns of smoke rising from the wreckage of the Twin Towers.
The pain I felt was exactly the same as what I felt a quarter of a century
before, when the Việt-Cộng shelled Saigon. As a woman whose education
had been aimed solely at raising children and serving my husband, all I
could do after I viewed the tragedy that faced my native land of Vietnam
was to write – write to praise the courage of the soldiers of the Republic
of Vietnam and to honor the indescribable sacrifice of their mothers, their
wives, and their children, because whenever a soldier fell the hearts and the
lives of those close to him were crushed as well.
Now, as I saw the senseless and brutal carnage and loss of life in New
York and Washington D.C., my soul was touched and I wanted to write
out my private thoughts about the place that had given us a home and to
which my family is still so grateful. Those thoughts took away most of my
enjoyment of the tour, which I had only taken out of curiosity and the desire
to understand the vast country of Russia.
Russia is a vast nation, but Russian lips are tight and they do not know
how to smile and laugh. Russian food usually consists of tough, tasteless
pieces of meat of unknown origin (even the menu does not say what kind
of meat it is) that is fried with eggs or flour and eaten with potatoes. Every
once in a while they will serve chicken. American foods, such as candy, ice
cream, and different soft drinks made by the Coca Cola Company, are sold
everywhere. I saw a few McDonald’s and Pizza Hut restaurants. Russian
handicrafts, such as glassware and wood products, are extremely beautiful,
because they are all hand-made. The Russian “Metro” subway system is
very modern, even though it was built a half century ago. Every 30 seconds
(and I emphasize that this is seconds, not minutes), a high-speed train arrives
and another passes going the other direction. In their daily activities and
work Russians, unlike Americans, do not dress in casual attire. While I was
enthralled with the ballet and the ice skating performance, the Russian folk
dances and folksongs touched my soul. The music of Russian folk songs
reflects the sad, mournful fate of the nomadic peoples of the steppes.
Russians are very proud of Red Square, because it is the symbol of the
capital. When I saw the square in photographs and in movies, I thought it
must be magnificent, but after seeing it with my own eyes, I decided, and
not because of any political prejudice, that Red Square was not as grand,
because it failed to blend the natural and the man-made together. Red Square
is paved in red bricks and is located on a gently sloping hill. The entire
square covers an area only about one third the size of Tienanmen Square
in Beijing. The highest points in this area are the government house and
Lenin’s tomb. A cathedral with gaudily painted onion-shaped towers lies
at one side of the base of the hill. The other side is just a large roadway.
During parades to display its military might, Russia’s Red Army troops,
tanks, and vehicles used this roadway as an exit. Now a high building has
been erected there with an open roadway through the ground level to allow
pedestrians and small cars to pass through. At the entrance to the other end
of Red Square, the cathedral side, many cement barriers have been erected
to prevent tanks and heavy vehicles from entering the Kremlin. At night
in front of the Kremlin, while young lovers whisper sweet nothings in each
other’s ears, older Russians walk with halting steps, their thoughts turned
toward a capital whose name has been changed to St Petersburg.
St. Petersburg is a city steeped in the history of the Russian Czars. St.
Petersburg did not win my heart with its old cathedral, still bearing the scars
of the bombs and shells of the Hitler era, or with its colorful paintings by
Ivan Aivazovsky, Wassily Kandinsky, and Pavel Filonov, but I formed a
deep affection for the rivers of St. Petersburg. The quiet, peaceful waters that
stretch through every part of the city are challenged at every turn by proud,
quiet, and strangely magnificent palaces. Sailing down the Neva River,
while everyone else was watching the drawbridges being raised to let ships
pass through, I could only think about the things I had seen along the road
after crossing the Russian border.
Along a stretch of rough road I had seen small clusters made up of
rundown huts and shacks. Once in a while an ancient automobile could be
seen parked under a tree, but I could not tell if the car was still usable or just
a piece of junk. In the narrow yards, each house had put up a small shed,
with a roof and walls covered with plastic sheets, to grow vegetables. I saw
that the rural people farmed by hand rather than using machinery.
These scenes of poverty stayed in my mind constantly, but when we got
to Minsk, all these images were thrust into the past, and all I felt was the
inner pain of someone who had just learned that the place where she had
lived for more than twenty years had just suffered a serious attack! From
Minsk to Riga, I noticed that all the flags in the cities were flying at half-
mast, and all the local people appeared to be worried, constantly watching
their televisions or anxiously waiting for the hourly news.
The event that moved me the most deeply happened at noon on
September 14 at the Scandic Hotel in Helskinki, Finland, when the hotel
management asked everyone to stand still for five minutes of silence to
commemorate the tragedy. While I stood there in silence, the reports by the
CNN commentator from the television on the wall of the conference hall
filled my thoughts. I felt the same pain in my heart that I felt in 1968, when
I learned that the Việt-Cộng had attacked and captured the city of Hue, the
home of my maternal grandparents.
After American and South Vietnamese forces regained control of Hue, I
was anxious to return to see the destruction that had touched the home of my
relatives. Now, at the Helsinki airport as I waited for a flight to Frankfurt, I
was also anxious to return to a place I now called home.
After looking at my ticket and seeing that I was not a Caucasian, the
Lufthansa employee told me,
“You have a ticket. I will put your name on the list, but you will not get a
seat. You will have to wait, because this is the first 747 flight from Germany
to the United States.”
“I bought my ticket a long time ago. Why do I have to wait? And how
long will I have to wait?”
“I am very sorry, but I do not know how long you will have to wait.
Whenever we have a seat, we will notify you. Right now we have a huge
backup of passengers because there have been no flights for several days.
And this flight, from Helsinki to Frankfurt and on to New York, is reserved
only for...”
Too impatient to let her finish the sentence, I interrupted,
“I left home just two weeks ago. Can you tell me why I can’t return
now?”
The woman looked at me in surprise.
“Home?” she asked.
I replied, my voice shaking as if I was about to cry,
“Yes, it’s my home.”
“Let me see your passport.”
After glancing at my passport, her entire demeanor changed.
“Yes, you are an American citizen. You will receive priority boarding on
this flight.”
I bent down to pick up my luggage, silently saying a prayer of gratitude
to the United States, the place that had taught me the true value of freedom,
democracy, and justice, and where, in every respect, America had given me
the opportunity to demonstrate my independence as a woman./.
ĐIỆP-MỸ-LINH
Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011
by LTSA
SAIGON.-Nhậu ngà ngà say, hai thanh niên chặn đầu xe máy của người dân đi trên đường Bạch Đằng thuộc quận Bình Thạnh để trấn lột 100.000 đồng rồi giật luôn ví tiền. Nghe tiếng truy hô của nạn nhân, cảnh sát đặc nhiệm phóng xe đuổi theo. Tên cướp bị cảnh sát đặc nhiệm quận Bình Thạnh truy đuổi là Đinh Mạnh Hùng mới 19 tuổi nhảy xuống cầu Bùi Hữu Nghĩa, nhưng không biết bơi nên chết đuối. Đồng bọn bị bắt Nguyễn Huệ Hưng 18 tuổi đang bị giam tại công an quận. Theo điều tra của công an Bình Thạnh, thì hai thiếu niên Đinh Mạnh Hùng và Nguyễn Huệ Hưng nhậu say chạy xe gắn máy trên đường Bạch Đằng Bình Thạnh.
Cả hai chặn đầu xe máy anh Hải cư dân Bình Thạnh dùng áp lực trấn lột 100,000 đồng. Thấy hai thanh niên hung hăng, anh Hải móc ví rút ra tờ 100.000 đồng đưa cho chúng. Thấy anh Hải nhiều tiền, Hùng và Hưng nổi máu tham nên giật luôn chiếc ví. Vét sạch tiền, cả hai ném lại cái ví cho anh Hải và lên xe phóng đi. Cuối cùng thì cả hai, một chết đuối và một bị công an bắt kết thúc cho một thảm kịch. Tội phạm cướp của, giết người, trấn lột, cướp đoạt tài sản, đâm thuê chém mướn mà những nghi can hầu hêt là những thiếu niên đã trở thành những hình ảnh đáng ngại và đáng sợ ở Saigon hiện nay
Nguồn: SBTN
Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2011
by LTSA
LONG AN (TH) -Chiều 1 tháng 9, bi kịch gia đình lại xảy ra tại Long An khi chồng chém vợ rồi tự tử bằng súng vì thua bài casino.
Theo báo Người Lao Ðộng, hung thủ là ông Nguyễn Văn Hoàng 50 tuổi, cư dân thị trấn Mộc Hóa, tỉnh Long An. Ông này đã dùng dao chém vợ là bà Ngô Ngọc Hồng 48 tuổi ngã quỵ rồi lao vào phòng dùng súng bắn vào đầu để tự kết liễu đòi mình.
Ông Hoàng chết tại chỗ vì một vết đạn từ trước xuyên ra sau đầu, tay còn cầm khẩu súng K54. Bà Hồng bị thương nặng được đưa vào bệnh viện cứu cấp.
Người hàng xóm của đôi vợ chồng này cho biết họ sống khá giả nhờ bán hột vịt và cho vay. Cả hai vừa xây xong căn nhà 3 tầng.
Khoảng một tháng trở lại đây, hai vợ chồng ông Hoàng đưa hàng sang casino ở Cam Bốt để bán và sa đà vào vòng bài bạc. Hai người còn ghen tuông, cãi vã nhau dữ dội.
Theo báo Người Lao Ðộng, khẩu súng mà ông Hoàng dùng để tự sát có thể là vũ khí của ông từ hồi còn trong quân ngũ giấu lại.
Cũng vào ngày nói trên, người cha của một gia đình khác ở huyện Tân Trụ, Long An cho hay đã mất 6,000 đô để chuộc mạng con trai ở casino tại Cambodia.
Cũng theo báo Người Lao Ðộng, người cha bất hạnh này tên Hồ Văn Sét 41 tuổi có cậu con trai tên Hồ Hoàng Anh 19 tuổi vay tiền bạn bè sang Cam Bốt đánh bạc. Hết tiền, cháy túi, Hoàng Anh vay 6,000 đô của giới giang hồ ở casino tiếp tục nướng sạch và bị “cầm mạng” tại đó.
Hoàng Anh bị giữ tại một nhà trọ đã phải gọi điện thoại cầu xin gia đình sang chuộc mạng.
Sau “cú” này, không biết liệu cậu quý tử nhà họ Hồ này có chịu “dừng chân.”
Người ta chưa quên cách nay 1 tháng đã có một người đàn ông cư dân Mộc Hóa, Long An thua bài bị giới giang hồ casino ở bên kia biên giới giết chết vất xác xuống sông. (PL)
by LTSA
Lưu ý: bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả, một thành viên trong nhóm, và không nhất thiết trùng khớp với quan điểm chung của nhóm biên tập.
Bài viết này nhằm nêu lên nguyên nhân gốc gây ra thực trạng khủng hoảng kinh tế Việt Nam hiện nay và cách giải quyết nó.
Cách đây 25 năm, khi đứng trước khủng hoảng kinh tế-xã hội toàn diện thì Đảng Cộng Sản Việt Nam đã phải nhường bước cho các cải cách kinh tế thị trường, chuyển từ nền kinh tế quan liêu tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường được gắn thêm cái đuôi Xã Hội Chủ Nghĩa. Thực chất thì cái đuôi này chỉ là một cách thức để giữ vững sự tồn tại của Đảng Cộng Sản Việt Nam khỏi sự đào thải của tiến trình lịch sử.
Trong 3 năm 1989, 1990, 1991, các cuộc cách mạng tại Đông Âu và Liên Xô cũ đã xóa bỏ hệ thống các nước Xã Hội Chủ Nghĩa tồn tại gần nửa thế kỷ tại Châu Âu. Tại đó, toàn xã hội trong đó có những Đảng viên Đảng Cộng Sản đã đồng lòng đập tan chính Nhà nước Cộng sản mà họ đã dựng lên cách đó gần nửa thế kỷ. Tất cả người dân tại Đông Âu và Nga đã bừng tỉnh rằng họ không thể tiếp tục duy trì một ý thức hệ không tưởng được nữa.
Kết quả của những cải cách kinh tế thị trường của Đảng Cộng Sản Việt Nam là chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa được duy trì đến năm 2011 này. Tuy nhiên họ đang đối diện với một cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ hơn so với 25 năm trước kia khi cả thế giới chuẩn bị bước vào giai đoạn suy thoái kinh tế. Những cải cách kinh tế thị trường trước kia dường như đã phát huy hết tác dụng của nó.
Về mặt chính trị, họ vẫn nắm giữ độc quyền chính trị bằng cách xây dựng hệ thống an ninh, mật vụ dày đặc hòng bóp nghẹt mọi nguy cơ thay đổi chính trị có hại cho họ từ trong trứng nước. Họ đưa ra điều 4 hiến pháp để đảm bảo duy trì quyền lực lãnh đạo đất nước Việt Nam vĩnh viễn cho Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Thế nhưng, mọi cố gắng của họ đều vô ích. Đảng Cộng Sản Việt Nam đang cố gắng làm việc không thể làm, đó là cứu vãn một ý thức hệ ĐÃ bị văn minh nhân loại đào thải.
Họ cố gắng cai trị 90 triệu dân không thích họ, không phục họ, không cộng tác với họ.
Làm tôi nhớ lại bài học sinh vật trong đại học: Liệu Jurassic Park có thể nuôi sống khủng long, cho dù tái tạo được chúng?
Câu trả lời là KHÔNG.
Việc tái tạo genes tuy khó, nhưng theo lý thuyết có thể làm. Nhưng khủng long không đủ “khỏe” để tồn tại. Chúng ăn quá nhiều, cây cỏ không thể đủ cho chúng ăn.
Một Jurassic Park sẽ cần hàng triệu tấn cây cỏ hàng năm, đang khi chất thải ra từ các con khủng long sẽ quá nhiều, tự làm chúng bệnh mà chết.
Đừng thương xót chúng, chúng đã qua “thời oanh liệt”, và bị đào thải do không thể tiến hóa đúng hướng, đó là thay vì nhỏ lại, thì chúng lớn ra và vụng về, cục mịch.
Chủ nghĩa Cộng Sản không khác, một thời từng là các con khủng long khổng lồ, máy bay Liên Xô lớn nhất thế giới, phi thuyền hiện đại nhất (vài năm đầu, từ Spunik), hùng mạnh nhất thế giới (Liên Xô, Trung Quốc đông dân hơn và nhiều vũ khí hơn NATO + Mỹ).
Nhưng Chủ nghĩa Cộng Sản không thể tiến hóa đúng hướng, mà như các con khủng long, nó không đủ “khỏe” để tồn tại.
Thứ nhất, nền kinh tế Việt Nam giờ không thể còn cạnh tranh nổi với nền kinh tế thế giới. Gạo, cá, tôm, gia công giày dép, dệt vải làm sao đem lại nhiều ngoại tệ bằng những món hàng công nghệ kỹ thuật cao như máy ảnh, máy vi tính … Những món đồ tại Việt Nam làm ra đều có giá trị thấp, đơn giản, nặng về gia công, lao động mà thiếu đi chất xám, công nghệ. Chính vì vậy, Việt Nam chỉ được biết đến như một đất nước có nhân công giá rẻ và khi lợi thế này mất đi thì các nhà đầu tư sẽ lũ lượt bỏ sang đất nước khác kiếm lợi thế này thôi. Bằng chứng rõ rệt nhất cho chúng ta thấy là số vốn FDI đổ vào Việt Nam năm 2011 giảm gần 50% trong 6 tháng đầu năm 2011 (Vietstock, 30/06/2011)
Đi kẻm với nền kinh tế kém cạnh tranh là hệ thống giáo dục lỗi thời, nặng về định hướng chính trị. Hệ quả của hệ thống giáo dục này là số người trẻ được đào tạo ra không có đủ các kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng sống để tìm việc và thích ứng trong một thế giới toàn cầu hóa đầy cạnh tranh này. Khi xây dựng nhà máy kiểm định và lắp ráp chip của Intel tại Sài Gòn, hãng này cho biết họ chỉ có thể tuyển được 40 nhân sự phù hợp mặc dù chỉ tiêu tuyển dụng lên tới 3.000 người. Hiện tại, tỷ lệ người thất nghiệp độ tuổi 15-29 chiếm đến 2/3 tổng số người thất nghiệp (Doanh nhân Sài Gòn, 22/08/2011)
Thứ hai, nền kinh tế Việt Nam sụp đổ từ khu vực kinh tế quốc doanh mà ra. Để có thể tiếp tục tồn tại, Đảng Cộng Sản Việt Nam tự đặt ra một khái niệm mới về nền kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa với nguyên tắc cơ bản là kinh tế quốc doanh làm chủ lực nền kinh tế.
Đảng Cộng sản sợ kinh tế tư doanh làm áp lực phải thay đổi chính trị, nên muốn bảo vệ chính họ bằng cách tạo lập nền kinh tế quốc doanh bao bọc xung quanh, làm “chủ lực”. Nhưng họ quên rằng còn phải nuôi nền kinh tế này, và phải nuôi rất nhiều, do nó LUÔN LUÔN đói ăn!
Hiện nay có không dưới 3 triệu đảng viên hoàn toàn không có khả năng, và không xứng đáng nhận lương quốc doanh. Vì họ không có giá trị gì cả, có chăng là con số âm.
Nhưng họ rất đói ăn trong khi tài nghệ không ra gì cả. Mà 3 triệu đảng viên ai cũng đòi kiếm tiền cho “bằng chị bằng em”, ai cũng đòi kiếm về cả tỉ VND là ít nhất/ năm, nhân lên cho 3 triệu đảng viên thì ít nhất phải 3 triệu tỉ VND, bằng 150 tỉ USD. Đó là một con số cực kỳ lớn so với GDP 100 tỉ USD hiện nay của Việt Nam.
Đảng Cộng Sản Việt Nam ngoài việc xài tiền trong việc quản trị, hành chính, mà còn phải NUÔI hàng trăm cty, tập đoàn quốc doanh, trong đó có hàng triệu đảng viên, gia đình dòng họ của họ.
Không nuôi đám này thì họ làm loạn, như nay PHẢI nuôi tàn dư VINASHIN vì họ có Ủy viên TW Đảng bao che, nhưng nếu nuôi họ thì phải tung ra THÊM hàng triệu tỉ VND trong 12 tháng tới gây lạm phát kinh hoàng như chúng ta đang chứng kiến hiện nay.
Kinh tế Việt Nam sẽ sập giống như kinh tế Liên Xô cũ từng sập, đó là do THIẾU NGOẠI TỆ mà ra.
Liên Xô thiếu ngoại tệ, không đủ xăng dầu, dân đói khổ, không có hàng ngoại nhập, lúa mì thiếu thốn không có USD nhập thêm về, nên lòng dân chán ghét cộng sản, quân lính mất tinh thần, KGB lo kiếm tiền mua bánh mì, Vodka, hơn là lo bắt các thành phần “phản động”; Smerch, GRU lo đào tị làm việc cho xã hội đen, mafia, buôn vũ khí kiếm tiền chứ hết còn vì Kremlin.
Một tình trạng không khác SẼ xảy ra, Đảng Cộng Sản Việt Nam đơn giản là không đủ tiền nuôi 3 triệu đảng viên.
Thứ ba, chế độ Cộng Sản Việt Nam là chế độ độc tài vậy nên không có khả năng tự sửa chữa lỗi hệ thống của chính nó gây ra. Bản chất chế độ độc tài cộng sản không hề có LUẬT PHÁP hay cơ chế điều phối và kiểm soát, tam quyền phân lập để hạn chế quyền lực, kiềm chế lòng tham của những đảng viên.
LUẬT PHÁP là do chính Đảng Cộng Sản viết ra, thi hành, thì làm sao nghiêm minh, làm sao công chính, vì chính những người viết luật, thi hành luật, là những người Cộng Sản, những người đang ăn hối lộ ngập đầu.
Kinh tế Việt Nam PHẢI SẬP vì nó không thể không sai lầm, không thể không sập. Nó sai từ các thành tố (chỉ lấy 3% dân chúng vào đảng, theo lý lịch, không tôn giáo, v.v…), từ cấu trúc tổ chức, từ ý thức hệ, từ lý luận nền tảng, lý luận phát triển, lý luận tồn tại.
Vì vậy, Kinh tế Việt Nam sập, Chủ nghĩa Cộng sản Việt Nam sập, không khác các con khủng long bị diệt chủng. Đã qua thời có thể thích ứng, tiến hóa, nay quá vụng về, cục mịch để có thể thay đổi và tồn tại.
Cách duy nhất để tiến hóa là DÂN CHỦ HÓA.
Nguồn: Dự Đoán Kinh tế
by LTSA
Chế độ Cộng Sản Việt Nam bắt đầu xuất hiện từ ngày 2-9-1945. Ngày nầy đánh dấu sự khởi đầu quốc nạn độc tài đảng trị toàn trị trên đất nước chúng ta cho đến ngày nay.
1.- Chủ trương độc quyền cai trị
Ngày 2-9-1945, đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) và Mặt trận Việt Minh (VM), một tổ chức ngoại vi của đảng CSĐD, cướp chính quyền. Lúc đó, đảng CSĐD chỉ có khoảng 5,000 đảng viên. (Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam đe 1940 à 1952, Paris: Éditions du Seuil, 1952, tr. 182.) Những người nầy thuộc ba nhóm chính: (1) Nhóm theo Hồ Chí Minh từ khi còn hoạt động ở Trung Quốc. (2) Nhóm trong nước từ thời Trần Phú và trước đó. (3) Nhóm từ Liên Xô đi thẳng về miền Nam. Tuy nhiên cả ba nhóm đều thuộc đảng CSĐD, dưới sự chỉ huy của Ủy ban Trung ương đảng CSĐD, và nằm trong hệ thống CSQT do Liên Xô lãnh đạo.
Đảng CSĐD và Mặt trận VM thành công là nhờ lúc đó quân đội Nhật Bản đầu hàng Đồng minh ngày 14-8-1945, hạ võ khí, và hoàn toàn không chiến đấu; trong khi chính phủ Trần Trọng Kim không có bộ Quốc phòng, không có quân đội để bảo vệ trật tự, an ninh. Do đó, bộ đội VM một mình thao túng, cướp chính quyền và công bố thành lập chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ngày 2-9-1945.
Ngày 11-9-1945, tức chỉ gần 10 ngày sau khi chính phủ VNDCCH ra mắt, hội nghị Trung ương đảng CSĐD tại Hà Nội đưa ra nguyên tắc căn bản là đảng CSĐD nắm độc quyền điều khiển mặt trận VM, và một mình thực hiện cách mạng. (Philippe Devillers, sđd. tr. 143.) Đảng CSĐD nắm độc quyền mặt trận VM. Mặt trận VM đang nắm chính quyền, cai trị đất nước. Như thế có nghĩa là đảng CSĐD độc quyền cai trị đất nước.
Do chủ trương độc tôn quyền lực, VMCS thực hiện hai kế hoạch: Thứ nhất tiêu diệt tất cả những thành phần đối lập, theo chủ nghĩa dân tộc. Thứ hai, thương thuyết với các thế lực nước ngoài (Trung Quốc và Pháp) nhằm duy trì quyền lực.
Kế hoạch tiêu diệt thành phần đối lập được VM gọi là “giết tiềm lực”. Chỉ những ai chịu sự điều động của VM, thì được tồn tại. Còn những ai có năng lực nhưng không hợp tác với VM, dầu không chống đối VM, cũng bị VM tiêu diệt để loại bỏ những khả năng tiềm ẩn, có thể bất lợi về sau cho VM. Cho đến nay chưa có thống kê đầy đủ tổng cộng số người bị VM sát hại vì lý do chính trị và tôn giáo từ cấp cao nhất ở trung ương và các thành phố lớn, đến cấp thấp ở các làng xã trên toàn quốc, trong giai đoạn từ khi VM nắm quyền năm 1945. Con số phỏng chừng không dưới một trăm ngàn người trên toàn quốc trong cuộc giết tiềm lực của VM. Con số xem ra lớn lao, nhưng tính trung bình từng tỉnh hoặc thành phố, nhân lên tổng số tỉnh trên toàn quốc thì sẽ thấy rõ. Xin chú ý thêm rằng những người bị VM giết đa số là nhân tài của đất nước, có thể nguy hiểm cho cộng sản, nên mới bị cộng sản giết.
2.- Bước đầu thi hành độc tài
Việt Minh nắm hết ngay tất cả những phương tiện truyền thông, đài phát thanh, các nhà máy in, các cơ sở sản xuất giấy và buôn bán giấy. Báo Cứu Quốc của mặt trận VM trước đây phát hành bí mật, nay ra công khai từ ngày 24-8-1945. Báo Sự Thật, cơ quan ngôn luận của nhà nước VM, xuất bản số đầu ngày 5-12-1945. Việt Minh thành lập ban chỉ đạo báo chí và văn sĩ, huấn luyện cán bộ tuyên truyền cho chế độ để hướng dẫn quần chúng.
Ngay khi vừa được thành lập, tuy chưa có quốc hội để quyết định, chính phủ VNDCCH đặt thủ đô tại Hà Nội. Ngày 5-9-1945, bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký văn thư quy định quốc kỳ là “Cờ đỏ sao vàng”, vốn là cờ của mặt trận Việt Minh, và bài “Tiến quân ca” của nhạc sĩ Văn Cao là quốc ca.
Lúc đó, quốc kỳ của CSVN có ngôi sao vàng ở giữa mập đầy, chứ không thon và sắc cạnh như về sau. Cờ nầy phỏng theo cờ của các đảng CSTH và Liên Xô. Theo tài liệu của CSVN, quốc kỳ và quốc ca của nhà nước VM đã được quyết định tại Đại hội đại biểu quốc dân ngày 16-8-1945 ở Tân Trào. (Bộ Quốc Phòng, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Hà Nội: Nxb. Quân Đội Nhân Dân, 2004, tr. 911.)
Về hành chánh, VM ban hành sắc lệnh ngày 5-9-1945 dẹp bỏ toàn bộ hệ thống quan lại cũ ở thành thị cũng như hào lý ở nông thôn, và lập ra những Uỷ ban nhân dân trên toàn quốc theo các cấp xã, huyện, tỉnh, bộ (kỳ). Uỷ ban nầy gồm những cán bộ VM và những người thân VM, trong đó đa số chưa thông thạo công việc hành chánh.
Nghị định ngày 8-9-1945 quy định tổ chức phổ thông đầu phiếu trong vòng hai tháng để bầu cử Quốc dân đại biểu đại hội (Quốc hội lập hiến). Tất cả công dân trên 18 tuổi đều được ứng cử và bầu cử, không phân biệt giới tính (nam, nữ), sắc tộc.
Tuy nói là hai tháng, nhưng VMCS tìm cách trì hoãn bầu cử. Mãi đến khi các đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc, từ Trung Quốc trở về Việt Nam sau thế chiến thứ hai, đòi hỏi quyết liệt, quốc hội lập hiến mới được bầu ngày 6-1-1946. Do sự chỉ định và áp đặt của VM, đa số đại biểu VM và than VM đắc cử. Chỉ có một thiểu số nhân vật các đảng phái được đưa vào quốc hội. Cựu hoàng Bảo Đại cho biết sau khi ra Hà Nội, ông bị đưa đi “nghỉ mát” ở Thanh Hóa. Việt Minh cho người đến mời ông ứng cử. Ông không tranh cử, nhưng lạ lùng là ông vẫn được đắc cử ở Thanh Hóa với số phiếu là 92% cử tri đi bầu. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Nguyễn Phước tộc xuất bản, 1990, tt. 221-222.)
Quốc hội soạn xong bản hiến pháp và thông qua ngày 9-11-1946, gồm “Lời nói đầu”, 7 chương và 70 điều. Lúc đó, các lãnh tụ đối lập với VM bị khủng bố đã rút lui hay bỏ qua Trung Quốc, không còn ai đối lập với VM. Vì vậy, Hiến pháp chưa được chính phủ ban hành, thì ngày 14-11-1946 quốc hội gồm đa số đại biểu VM còn lại, tuyên bố đình chỉ thi hành hiến pháp vừa thông qua. (Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua, 1945-1964, Sài Gòn: 1965, California: Nxb Xuân Thu tái bản, không đề năm, tr. 28.)
Trong chế độ cộng sản đảng trị, nhà nước VM chỉ là cánh tay nối dài của đảng CS và chỉ tuân theo những nghị quyết của đảng bộ cộng sản, thường được gọi là đảng ủy các cấp, từ trung ương xuống địa phương, chứ không theo luật pháp quy định. Nghị quyết là quyết định của một nhóm người (tức các đảng bộ VM) đưa ra trong một hội nghị, theo từng hoàn cảnh, chủ quan chính trị và quyền lợi của nhóm người đó. Vì vậy, để độc tôn quyền lực, nhà nước VM không cần đến hiến pháp nhằm tránh bị hiến pháp ràng buộc.
Ngày 11-9-1945, Hồ Chí Minh gởi thông báo cho các tỉnh trên toàn quốc, chỉ dẫn cách thức tổ chức Ủy ban nhân dân tỉnh. Mỗi ủy ban tỉnh gồm có từ 5 đến 7 người: chủ tịch, phó chủ tịch, thư ký, và 4 ủy viên (chính trị, kinh tế, quân sự, xã hội). Ủy viên chính trị có nhiệm vụ thành lập tòa án nhân dân trừng trị những kẻ phạm tội, trái luật, do thám, Việt gian, tuyên truyền và huấn luyện chính trị cho nhân dân. (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, sđd. tt. 21-23.)
Việt gian là từ ngữ xuất hiện từ năm 1945 mà VM dùng để chỉ những người không đồng chánh kiến với VM, theo các đảng phái khác, hay cộng tác với người Pháp hoặc người Nhật (VM gọi là tay sai). Việt Minh muốn hãm hại ai, thì chỉ cần chụp mũ Việt Gian là bắt giết. Trong khi đó, Hồ Chí Minh và VM cộng tác và làm tay sai cho Liên Xô và Cộng sản Trung Quốc thì sao?
Về danh xưng các đơn vị hành chánh, ngày 14-9-1945, VM lấy tên danh nhân hay tên cán bộ cộng sản đặt tên các địa phương, thay thế tên cũ. Đại khái tên các thành phố và tỉnh thành như sau: Thành phố Hoàng Diệu (Hà Nội); Nguyễn Trãi (Hà Đông); Đề Thám (Bắc Giang); Lý Thường Kiệt (Bắc Ninh); Ngô Duy Phường (Thái Bình); Tán Thuật (Hưng Yên); Trần Hưng Đạo (Nam Định); Hoa Lư (Ninh Bình); Trưng Trắc (Phúc Yên); Nguyễn Thái Học (Vĩnh Yên); Đội Cấn (Thái Nguyên); Ngô Quyền (Sơn Tây); Tô Hiệu (Hải Phòng); Phạm Ngũ Lão (Hải Dương); Thái Phiên (Đà Nẵng); Trần Cao Vân (Quảng Nam); Lê Trung Đình (Quảng Ngãi); Cao Thắng (Phú Yên); Nguyễn Huệ (Quy Nhơn) …
Tuy nhiên, người Việt không có thói quen dùng tên người để đặt tên thành phố theo kiểu Tây phương, nên ngày 9-10-1945, Hội đồng chính phủ quyết định các địa phương đều phải lấy lại tên cũ. Trong thời gian nầy, chính phủ VM chia nước thành 14 khu, vừa có tính chất hành chính, vừa có tính chất quân sự, và dùng con số để đặt tên các khu. Bắc Bộ có 7 khu (1, 2, 3, 10, 11, 12, 14). Trung Bộ có 4 khu (4, 5, 6, 15). Nam Bộ có 3 khu (7, 8, 9). Số thứ tự các khu về sau sẽ được điều chỉnh.
Điều đáng nói thêm là để thi hành chủ trương độc tài đảng trị, đảng CS và VM áp dụng chính sách “giáo dục phục vụ nhân dân” hay “giáo dục phục vụ chính trị”. Đó là nền giáo dục nhằm mục đích trên lý thuyết là phục vụ nhân dân, phục vụ công nhân lao động, nhưng trên thực tế là phục vụ chính trị, tức phục vụ chế độ do đảng CSĐD lãnh đạo.
Chính sách nầy do thứ trưởng Giáo dục Nguyễn Khánh Toàn nhập cảng từ Liên Xô. Có người cho rằng chính sách nầy ở Liên Xô do bộ trưởng Liên Xô là Kalenikov (?) đưa ra. Nguyễn Khánh Toàn có tên Nga là Minin, đã tòng học tại Học viện Thợ thuyền Đông phương (Université des Travailleurs d’Orient) ở Moscow (Liên Xô) từ năm 1928 đến năm 1931.
Trong nền giáo dục nầy, chương trình học tập cho học sinh theo đúng lập trường đảng CSĐD, nhất là các môn nhân văn (quốc văn, sử địa, công dân hay chính trị). Chỉ những người có thẩm quyền trong đảng mới được soạn sách giáo khoa và sách giáo khoa được xem là pháp lệnh, không giáo viên nào được giảng dạy ra ngoài sách giáo khoa. Giáo viên, học sinh đều phải “hồng” hơn “chuyên”, tức phải mang tính đảng hơn là khả năng chuyên môn. Với một nền giáo dục như thế, CSVN chỉ đào tạo được những người biết vâng lời hơn là biết suy nghĩ. Cộng sản chỉ cần như thế để ap đặt chế độc độc tài toàn trị. Tuy nhiên, chính đó là nguyên nhân suy thoái của Việt Nam ngày nay.
Chỉ sơ lược như trên, rõ ràng ngày 2-9 chẳng có gì vui mừng để gọi là “quốc khánh”, mà là ngày mở đầu cho quốc nạn và quốc nhục độc tài đảng trị và toàn trị của dân chúng Việt Nam.
(Toronto, 30-8-2011)
Trần Gia Phụng
Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011
by LTSA
TIỀN GIANG (SGTT) - Rất nhiều du khách Việt Nam đến tỉnh Tiền Giang trong những ngày gần đây đều kinh ngạc khi biết tin một số chủ nhân nhiều nhà cổ Cái Bè không tiếp khách Việt
Một trong những căn nhà cổ nổi tiếng làng Ðông Hòa Hiệp thuộc huyện Cái Bè có tên Ba Ðức trưng bày toàn đồ cổ có giá trị. Sân vườn chung quanh nhà đầy những cây ăn trái và nhiều giống được coi là “hoa thơm cỏ lạ” của miền Tây sông nước. Trong khu vực còn có ngôi nhà cổ Út Kiệt của bà Lê Thị Chính được các nhà khảo cổ Nhật Bản xếp vào hạng “đại mỹ gia” ở Việt Nam.
Sản phẩm Việt Nam, đồ cổ Việt Nam, cây trái Việt Nam, trên đất Việt Nam và chủ nhân Việt Nam lại khăng khăng “không tiếp du khách Việt Nam”. Tin này đã làm nhiều du khách Việt đến miền Tây bật ngửa. Một số du khách Việt kiều thì giấu nhẹm cái gốc Việt Nam của mình để được vào chiêm ngưỡng các căn nhà cổ, thưởng thức trái cây và món ăn vùng sông nước miền Tây.
Bà Lê Thị Chính cho biết khách Việt Nam ăn uống bề bộn, đòi hỏi đủ thứ trong khi khách ngoại quốc thường cẩn thận chọn món ăn trước, không tùy hứng mà gây sự bối rối cho gia chủ. Một trong những đặc điểm của du khách ngoại quốc khiến bà Chính thán phục là bàn ăn lúc nào cũng sạch sẽ, gọn gàng và họ xin lỗi liền miệng mỗi khi lỡ làm rơi thức ăn hay đổ ly nước uống.
Ông Ba Ðức cũng chê du khách Việt Nam biến ngôi vườn của ông trở nên xơ xác, hái trái non quăng đầy và xả rác lung tung trên mặt đất. Du khách Việt Nam còn nổi máu “tàn phá môi sinh” khi đòi ăn rùa, rắn và thường la lối om sòm mỗi khi nhâm nhi ly rượu.
Báo Sài Gòn Tiếp Thị cũng cho biết trong khi du khách ngoại quốc giữ thái độ im lặng, lịch sự lắng nghe lời thuyết minh để tìm hiểu về lịch sử ngôi nhà cổ thì du khách Việt ồn ào đứng ngồi không yên, chỉ muốn chụp ảnh kỷ niệm rồi rút lui.
Một số người dân Việt cho biết bị “sốc” khi nghe tin này nhưng tỏ ra thông cảm và cho rằng cần phải có thái độ dứt khoát như vậy để giúp người dân Việt chịu khó học hỏi và bắt chước những điều hay của du khách phương xa.
Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2011
by LTSA
Lê Diễn Đức
Buổi biểu diễn "phản biểu tình" dưới chân tượng đài Lý Thái Tổ, Hà Nội, chủ nhật 21/8/2011
Tôi trầm mặc sau khi đọc bài “Chân dung một người biểu tình bị bắt” của Vũ Ngọc Tiến (Blog Quê Choa, 24/8) nói về một đại tá công an về hưu tham gia biểu tình. Tôi nghĩ về nhân tình thế thái của cái thời mà các giá trị bị đảo lộn, bị đánh tráo, cái ác lên ngôi. Sự phản bội và bất nhân có mặt khắp nơi, với cả những người đã đổ xương máu và mồ hôi cho Việt Nam thống nhất hôm nay:
“Khoảng 18 giờ 30 ngày 19/8/2011, đang ngồi quán café Nhân ngắm nhìn trời mưa rả rích, tôi nghe được giọng anh qua điện thoại: “Ông đã đọc cái gọi là Thông báo cấm biểu tình của thành phố chưa, thấy thế nào?”. Tôi đáp gọn thỏm: “Đọc rồi. Không chính danh”. Anh đồng tình: “Đúng, danh đã không chính thì ngôn làm sao thuận, nên nó vô giá trị. Chủ nhật tới, dù trời mưa hay nắng tôi vẫn cứ đi, còn ông?”. Cảm động trước tấm lòng tràn đầy nhiệt huyết của anh, tôi đáp một lèo không hề nghĩ ngợi: “Đi chứ! Là một công dân, tôi có trách nhiệm phải xuống đường, cùng mọi người thề giữ gìn chủ quyền biển đảo. Là thằng nhà văn, tôi có nhu cầu dấn thân vào đời sống xã hội để trang viết khỏi khô cứng, mờ nhạt. Là người ông trong gia đình, tôi không muốn sau này hổ thẹn với cháu nội, cháu ngoại của mình. Đơn giản thế thôi”. Đầu bên kia có tiếng anh cười ngả ngớn như muốn vỡ màng loa: “Nhà văn có khác. Tôi có phải ký giả phương Tây đến phỏng vấn đếch đâu mà ông nói hay như đang nhập đồng ngồi viết thế, haha!…”. Thế đấy, chúng tôi xuống đường bằng nhu cầu tự thân, tuệ giác mẫn tiệp và sự mách bảo của con tim mỗi người, chứ đâu cần ai tổ chức, càng không thể có thế lực thù địch nào lôi kéo, kích động nổi những mẫu người như anh (…)
Tôi nán lại nơi xảy ra biểu tình đến 10 giờ 30, thơ thẩn đi dưới những tán cây cổ thụ ven hồ, bồn chồn nghĩ về anh và hơn bốn chục người bị bắt đưa vào Mỹ Đình. Nhiều người đi biểu tình muộn nhận ra tôi vồ vập hỏi thăm hoặc xin cùng tôi chụp vài pô ảnh làm kỷ niệm. Thật lạ, có người từ Huế hoặc Nghệ An ra, từ Nam Định lên, từ Tuyên Quang xuống, chưa hề gặp mặt mà vẫn biết anh, hỏi thăm anh qua tôi và nói những lời tốt đẹp về anh – một Đại tá công an nghỉ hưu đi biểu tình, bị bắt lúc 9 giờ 12 ngày 21/8/2011”…
Một chính quyền thực sự do dân, vì dân, hiển nhiên sẽ tỏ thiện chí, thậm chí tạo điều kiện cho các cuộc xuống đường yêu nước, làm nên một nét sinh hoạt văn hoá sống động giữa thủ đô Ngàn năm Thăng Long, khi mỗi sáng chủ nhật có những dòng người trong trật tự, đi bên nhau cỗ vũ tinh thần bảo vệ Tổ quốc trước hiểm họa ngoại xâm.
Nhưng vì không công minh, chính đại nên chính quyền đã run sợ. Sợ Trung Nam Hải khiển trách không làm tròn bổn phận “định hướng dư luận”. Sợ bị ai đó lợi dụng, xúi dục, lật đổ, bởi vì xã hội đang có quá nhiều nguy cơ bùng nổ bởi bất công và quốc nạn tham nhũng làm xói mòn đất nước. Nhưng “ai đó” là ai, thế lực nào? Tên gọi, hình thù ra sao, thì không chỉ ra được. Kẻ dối trá thường phải sống với suy tưởng bất an, phi thực tế. Các chế độ độc tài toàn trị luôn luôn cần có kẻ thù, và nếu không có, sẽ tạo ra kẻ thù.
Và em tôi đã bật khóc khi nhìn mọi người bị bắt lên xe buýt! Hà Nội cũng khóc!
Tôi không biết cô gái tên gì. Nước mắt xót xa, cay đắng trên khuôn mặt em là hình ảnh của thân phận bất hạnh và bất lực trước bạo quyền, làm rỉ máu lương tâm của tất cả những ai còn gắn bó với quê hương Việt Nam.
Những ngày tiếp theo, thao thức, ưu tư, có lúc mệt mỏi, bi quan, vì vẫn còn nhiều người bị giam giữ. Tôi đã biết cảnh tù đày, nên thương và lo lắng cho họ, những người vô tội mà tự dưng phải chịu cảnh giam cầm, đày đoạ, và vì chưa quen gian khổ rất có thể ai đó sẽ chùn lòng, đánh mất chính mình.
Cùng với tâm trạng buồn của tôi, chưa bao giờ trong cùng một thời gian có những bài viết của bạn bè mình buồn đến thế về Hà Nội. Hà Nội mùa Thu!
Nguyễn Hùng của BBC Việt ngữ, trong bài “Hà Nội: Biểu tình và những giọt nước mắt”, 23/8, viết:
“Cuộc biểu tình lần thứ 11 đã qua đi, đọng lại là hình ảnh những an ninh không đồng phục tung hoành ngang dọc giữa những người biểu tình mà hiện vẫn có người đang bị giam giữ và những giọt nước mắt bất lực của những cô gái trẻ. Người ta đã nhại cả những câu thơ đẹp đẽ để ghi lại những sự cố ở Hà Nội trong mùa hè 2011:
Những bàn chân dẫm xuống mặt dân
Những đôi mắt ếch nhìn đôi mắt
Buồn ở đâu hơn ở chốn này!”
Đoan Trang, cô gái sinh ra và lớn lên từ Hà Nội, tâm tình trong “Trời vào thu, Việt Nam buồn lắm em ơi”:
“Thành phố ấy, bây giờ không còn là của tôi nữa. Nó giống như là cõi riêng của những kẻ vô học tay đeo băng đỏ, miệng chỉ chực phồng lên thổi còi “quen quét”; của những nhân viên an ninh, công an, đồng phục và thường phục, ngút ngàn tự tin; của những nhân vật mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy, mặt trơ trán bóng, bụng tích dần lớp mỡ dày”…
“Trong cái cõi ấy, họ có toàn quyền làm điều gì họ thích. Họ có thể bỏ vài chục tấm biển “cấm tụ tập đông người” vào trong thùng xe, lượn phố, rồi thích thì thả biển xuống vườn hoa, công viên, hồ nước, chân tượng đài Lý Thái Tổ. Họ có thể thộp ngực, xốc nách, xách tay những thanh niên không tấc sắt lên xe buýt, “hốt về bót”, mà miệng vẫn leo lẻo: “Đây là chúng tôi mời, không phải bắt”. Trời đất ạ, trong chúng ta, có ai mời người khác đi đâu bằng cách ấy bao giờ chưa?”
Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Blogger Mẹ Nấm) với bài “Viết cho mùa thu”:
“Những ngày cuối cùng của tháng Tám sắp đi qua, và Hà Nội đang vào thu (…) Mùa thu Hà Nội thường đọng lại trong tôi rất nhiều ký ức đẹp, nhưng có lẽ hôm nay ký ức đó không những đẹp mà còn buồn. Bởi hai người chị, và người bạn của tôi vẫn còn đang bị giam giữ vì bày tỏ lòng yêu nước của mình "không đúng cách". Viết cho mùa thu năm nay, không mong gì hơn ngoài sự bình an, vững vàng và tinh thần kiên định của chị Hằng, chị Phượng và Dũng”.
Lời kết
Hà Nội khóc! Em tôi đã khóc! Nhưng Hà Nội cũng sẽ “không tin vào những giọt nước mắt”!
Vì Hà Nội còn nhiều, rất nhiều người yêu nước kiên định và hết mực thuỷ chung với bè bạn. Vẫn còn Kim Tiến ở tuổi đôi mươi viết trên trang Facebook: “Lúc nào cũng phải cười trên nỗi buồn… hé hé… tội gì khóc cho tụi nó vui… hờ hờ...”. Vẫn còn Blogger Người Buôn Gió hay Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện bất chấp những hệ luỵ lò mò tới đồn công an, hay vào tận trại giam tìm cách tiếp tế đồ ăn cho những người bị bắt. Và nhiều người bạn khác nữa. Họ đã đến cổng nhà tù Hoả Lò hôm trước chờ tới đêm, không thấy, rồi săn tin, và tới nữa. Chị Hằng, chị Bích và cậu Dũng được trả tự do vào chiều tối ngày 25 tháng 8, trong những vòng tay ôm xiết chặt, trong nụ cười…
Bè bạn bên nhau tối 25/8 trước nhà tù Hoả Lò- Ảnh: Lee Nguyễn
Và trong cả nước mắt!
Em tôi lại khóc! Chị tôi khóc. Và Hà Nội khóc!
Vì niềm vui lại được bên nhau. Những người bạn không bỏ rơi mình trong hoạn nạn!
Tôi muốn lấy “Khúc không đề mùa thu” (trên trang Bauxite Việt Nam) của nhà giáo già Phạm Toàn sau khi đọc bài “Viết cho mùa thu” của Mẹ Nấm, thay cho lời kết:
“Hỡi những người cầm quyền, hãy hình dung Mẹ Nấm và lớp trẻ đó khi họ vẫn còn nhớ tới Tháng tám mùa Thu, và xin hãy đừng để hồn thơ của họ phải kết thúc các bài họ viết như thế này, Tháng Tám mùa Thu – Ngày thật buồn! Các vị sẽ phải chịu trách nhiệm về nỗi buồn của cả một thế hệ!”.
Thưa nhà giáo Phạm Toàn! Vâng, một ngày nào đó lớp trẻ không cần bất cứ bàn tay đạo diễn nào, cũng chẳng cần áo xiêm loè loẹt, hớ hênh, miễn cưỡng, họ sẽ mặc nhiên tự do, vui cười, nhảy múa, hát thật to những bài ca yêu nước với tâm hồn vô tư, trong sáng dưới ánh nắng của Hà Nội mùa Thu tháng Tám.
Hà Nội sẽ được trả về cho chính nó với thơ, ca, nhạc, hoạ, đầy ắp tình người, trong ngào ngạt mùi hương của hoàng lan và hoa sữa.
Và dưới những cây bàng lá đỏ “ai đó chờ ai tóc xoã vai mềm” sẽ tô đậm thêm nét kiêu sa, lãng mạn của Hà Nội mùa Thu! ■
© 2011 Lê Diễn Đức RFA Blog
Buổi biểu diễn "phản biểu tình" dưới chân tượng đài Lý Thái Tổ, Hà Nội, chủ nhật 21/8/2011
Tôi trầm mặc sau khi đọc bài “Chân dung một người biểu tình bị bắt” của Vũ Ngọc Tiến (Blog Quê Choa, 24/8) nói về một đại tá công an về hưu tham gia biểu tình. Tôi nghĩ về nhân tình thế thái của cái thời mà các giá trị bị đảo lộn, bị đánh tráo, cái ác lên ngôi. Sự phản bội và bất nhân có mặt khắp nơi, với cả những người đã đổ xương máu và mồ hôi cho Việt Nam thống nhất hôm nay:
“Khoảng 18 giờ 30 ngày 19/8/2011, đang ngồi quán café Nhân ngắm nhìn trời mưa rả rích, tôi nghe được giọng anh qua điện thoại: “Ông đã đọc cái gọi là Thông báo cấm biểu tình của thành phố chưa, thấy thế nào?”. Tôi đáp gọn thỏm: “Đọc rồi. Không chính danh”. Anh đồng tình: “Đúng, danh đã không chính thì ngôn làm sao thuận, nên nó vô giá trị. Chủ nhật tới, dù trời mưa hay nắng tôi vẫn cứ đi, còn ông?”. Cảm động trước tấm lòng tràn đầy nhiệt huyết của anh, tôi đáp một lèo không hề nghĩ ngợi: “Đi chứ! Là một công dân, tôi có trách nhiệm phải xuống đường, cùng mọi người thề giữ gìn chủ quyền biển đảo. Là thằng nhà văn, tôi có nhu cầu dấn thân vào đời sống xã hội để trang viết khỏi khô cứng, mờ nhạt. Là người ông trong gia đình, tôi không muốn sau này hổ thẹn với cháu nội, cháu ngoại của mình. Đơn giản thế thôi”. Đầu bên kia có tiếng anh cười ngả ngớn như muốn vỡ màng loa: “Nhà văn có khác. Tôi có phải ký giả phương Tây đến phỏng vấn đếch đâu mà ông nói hay như đang nhập đồng ngồi viết thế, haha!…”. Thế đấy, chúng tôi xuống đường bằng nhu cầu tự thân, tuệ giác mẫn tiệp và sự mách bảo của con tim mỗi người, chứ đâu cần ai tổ chức, càng không thể có thế lực thù địch nào lôi kéo, kích động nổi những mẫu người như anh (…)
Tôi nán lại nơi xảy ra biểu tình đến 10 giờ 30, thơ thẩn đi dưới những tán cây cổ thụ ven hồ, bồn chồn nghĩ về anh và hơn bốn chục người bị bắt đưa vào Mỹ Đình. Nhiều người đi biểu tình muộn nhận ra tôi vồ vập hỏi thăm hoặc xin cùng tôi chụp vài pô ảnh làm kỷ niệm. Thật lạ, có người từ Huế hoặc Nghệ An ra, từ Nam Định lên, từ Tuyên Quang xuống, chưa hề gặp mặt mà vẫn biết anh, hỏi thăm anh qua tôi và nói những lời tốt đẹp về anh – một Đại tá công an nghỉ hưu đi biểu tình, bị bắt lúc 9 giờ 12 ngày 21/8/2011”…
Một chính quyền thực sự do dân, vì dân, hiển nhiên sẽ tỏ thiện chí, thậm chí tạo điều kiện cho các cuộc xuống đường yêu nước, làm nên một nét sinh hoạt văn hoá sống động giữa thủ đô Ngàn năm Thăng Long, khi mỗi sáng chủ nhật có những dòng người trong trật tự, đi bên nhau cỗ vũ tinh thần bảo vệ Tổ quốc trước hiểm họa ngoại xâm.
Nhưng vì không công minh, chính đại nên chính quyền đã run sợ. Sợ Trung Nam Hải khiển trách không làm tròn bổn phận “định hướng dư luận”. Sợ bị ai đó lợi dụng, xúi dục, lật đổ, bởi vì xã hội đang có quá nhiều nguy cơ bùng nổ bởi bất công và quốc nạn tham nhũng làm xói mòn đất nước. Nhưng “ai đó” là ai, thế lực nào? Tên gọi, hình thù ra sao, thì không chỉ ra được. Kẻ dối trá thường phải sống với suy tưởng bất an, phi thực tế. Các chế độ độc tài toàn trị luôn luôn cần có kẻ thù, và nếu không có, sẽ tạo ra kẻ thù.
Và em tôi đã bật khóc khi nhìn mọi người bị bắt lên xe buýt! Hà Nội cũng khóc!
Tôi không biết cô gái tên gì. Nước mắt xót xa, cay đắng trên khuôn mặt em là hình ảnh của thân phận bất hạnh và bất lực trước bạo quyền, làm rỉ máu lương tâm của tất cả những ai còn gắn bó với quê hương Việt Nam.
Những ngày tiếp theo, thao thức, ưu tư, có lúc mệt mỏi, bi quan, vì vẫn còn nhiều người bị giam giữ. Tôi đã biết cảnh tù đày, nên thương và lo lắng cho họ, những người vô tội mà tự dưng phải chịu cảnh giam cầm, đày đoạ, và vì chưa quen gian khổ rất có thể ai đó sẽ chùn lòng, đánh mất chính mình.
Cùng với tâm trạng buồn của tôi, chưa bao giờ trong cùng một thời gian có những bài viết của bạn bè mình buồn đến thế về Hà Nội. Hà Nội mùa Thu!
Nguyễn Hùng của BBC Việt ngữ, trong bài “Hà Nội: Biểu tình và những giọt nước mắt”, 23/8, viết:
“Cuộc biểu tình lần thứ 11 đã qua đi, đọng lại là hình ảnh những an ninh không đồng phục tung hoành ngang dọc giữa những người biểu tình mà hiện vẫn có người đang bị giam giữ và những giọt nước mắt bất lực của những cô gái trẻ. Người ta đã nhại cả những câu thơ đẹp đẽ để ghi lại những sự cố ở Hà Nội trong mùa hè 2011:
Những bàn chân dẫm xuống mặt dân
Những đôi mắt ếch nhìn đôi mắt
Buồn ở đâu hơn ở chốn này!”
Đoan Trang, cô gái sinh ra và lớn lên từ Hà Nội, tâm tình trong “Trời vào thu, Việt Nam buồn lắm em ơi”:
“Thành phố ấy, bây giờ không còn là của tôi nữa. Nó giống như là cõi riêng của những kẻ vô học tay đeo băng đỏ, miệng chỉ chực phồng lên thổi còi “quen quét”; của những nhân viên an ninh, công an, đồng phục và thường phục, ngút ngàn tự tin; của những nhân vật mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy, mặt trơ trán bóng, bụng tích dần lớp mỡ dày”…
“Trong cái cõi ấy, họ có toàn quyền làm điều gì họ thích. Họ có thể bỏ vài chục tấm biển “cấm tụ tập đông người” vào trong thùng xe, lượn phố, rồi thích thì thả biển xuống vườn hoa, công viên, hồ nước, chân tượng đài Lý Thái Tổ. Họ có thể thộp ngực, xốc nách, xách tay những thanh niên không tấc sắt lên xe buýt, “hốt về bót”, mà miệng vẫn leo lẻo: “Đây là chúng tôi mời, không phải bắt”. Trời đất ạ, trong chúng ta, có ai mời người khác đi đâu bằng cách ấy bao giờ chưa?”
Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Blogger Mẹ Nấm) với bài “Viết cho mùa thu”:
“Những ngày cuối cùng của tháng Tám sắp đi qua, và Hà Nội đang vào thu (…) Mùa thu Hà Nội thường đọng lại trong tôi rất nhiều ký ức đẹp, nhưng có lẽ hôm nay ký ức đó không những đẹp mà còn buồn. Bởi hai người chị, và người bạn của tôi vẫn còn đang bị giam giữ vì bày tỏ lòng yêu nước của mình "không đúng cách". Viết cho mùa thu năm nay, không mong gì hơn ngoài sự bình an, vững vàng và tinh thần kiên định của chị Hằng, chị Phượng và Dũng”.
Lời kết
Hà Nội khóc! Em tôi đã khóc! Nhưng Hà Nội cũng sẽ “không tin vào những giọt nước mắt”!
Vì Hà Nội còn nhiều, rất nhiều người yêu nước kiên định và hết mực thuỷ chung với bè bạn. Vẫn còn Kim Tiến ở tuổi đôi mươi viết trên trang Facebook: “Lúc nào cũng phải cười trên nỗi buồn… hé hé… tội gì khóc cho tụi nó vui… hờ hờ...”. Vẫn còn Blogger Người Buôn Gió hay Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện bất chấp những hệ luỵ lò mò tới đồn công an, hay vào tận trại giam tìm cách tiếp tế đồ ăn cho những người bị bắt. Và nhiều người bạn khác nữa. Họ đã đến cổng nhà tù Hoả Lò hôm trước chờ tới đêm, không thấy, rồi săn tin, và tới nữa. Chị Hằng, chị Bích và cậu Dũng được trả tự do vào chiều tối ngày 25 tháng 8, trong những vòng tay ôm xiết chặt, trong nụ cười…
Bè bạn bên nhau tối 25/8 trước nhà tù Hoả Lò- Ảnh: Lee Nguyễn
Và trong cả nước mắt!
Em tôi lại khóc! Chị tôi khóc. Và Hà Nội khóc!
Vì niềm vui lại được bên nhau. Những người bạn không bỏ rơi mình trong hoạn nạn!
Tôi muốn lấy “Khúc không đề mùa thu” (trên trang Bauxite Việt Nam) của nhà giáo già Phạm Toàn sau khi đọc bài “Viết cho mùa thu” của Mẹ Nấm, thay cho lời kết:
“Hỡi những người cầm quyền, hãy hình dung Mẹ Nấm và lớp trẻ đó khi họ vẫn còn nhớ tới Tháng tám mùa Thu, và xin hãy đừng để hồn thơ của họ phải kết thúc các bài họ viết như thế này, Tháng Tám mùa Thu – Ngày thật buồn! Các vị sẽ phải chịu trách nhiệm về nỗi buồn của cả một thế hệ!”.
Thưa nhà giáo Phạm Toàn! Vâng, một ngày nào đó lớp trẻ không cần bất cứ bàn tay đạo diễn nào, cũng chẳng cần áo xiêm loè loẹt, hớ hênh, miễn cưỡng, họ sẽ mặc nhiên tự do, vui cười, nhảy múa, hát thật to những bài ca yêu nước với tâm hồn vô tư, trong sáng dưới ánh nắng của Hà Nội mùa Thu tháng Tám.
Hà Nội sẽ được trả về cho chính nó với thơ, ca, nhạc, hoạ, đầy ắp tình người, trong ngào ngạt mùi hương của hoàng lan và hoa sữa.
Và dưới những cây bàng lá đỏ “ai đó chờ ai tóc xoã vai mềm” sẽ tô đậm thêm nét kiêu sa, lãng mạn của Hà Nội mùa Thu! ■
© 2011 Lê Diễn Đức RFA Blog
by LTSA
KÍNH NHỚ HAI THÁNH MONICA VÀ AUGUSTINÔ
Ngày xưa ở xứ Phi Châu
Người Mẹ đau khổ khẩn cầu Chúa thương
Cầu nguyện liên lỉ canh trường
Mười mấy năm lẻ đau thương khổ sầu
Ngày đêm bền chi nguyện cầu
Bởi con đi lạc vào sâu đường tà
Xin Chúa cứu chữa con ra
Người mẹ là Mo-ni-ca hiền từ
Đau khổ vì đứa con hư
Yêu thương con quá đến nhừ người ra
Thế rồi ơn Chúa ban ra
Người con bà đã cải tà quy y
Chẳng còn bướng bình chai lỳ
Cuộc đời thấy lắm diệu kỳ đẩy xô
Anh chàng Au-gus ti nô
Tìm ra "Chân Lí" trầm trồ ngợi ca
Mẹ chàng xưa đã nói qua
Những lời Thiên Chúa ban ra cho đời
Nhưng anh nào có nghe lời
Đi theo tà giào tưởng nơi an bình
Bây giờ thức tỉnh tâm linh
Đến gặp Giám mục tâm tình ra vô
Đức Cha Thánh Ambrosiô
Rửa tội sau đó trầm trồ khen anh
Anh được Thiên Chúa chúc lành
Sau này sẽ được vang danh đất trời
Bao nhiêu giòng lệ đã rơi
Mẹ chàng cảm tạ Chúa Trời cho con
Bao nhiêu năm đã mỏi mòn
Chúa ban nay đã no tròn tâm linh
Đất trời sẽ trổ hoa xinh
Mẹ con thánh hiến đời mình lên Cha
Cùng nhau trở lại quê nhà
Trên đường luôn mãi ngợi ca Chúa Trời
Mẹ con đi đến mỗi nơi
Reo vang Lời Chúa để đời ngợi khen
Lời Ngài sáng tựa ngọn đèn
Sau lên Giám Mục, sang hèn kính yêu
Lời Ngài để lại rất nhiều
Giúp cho đời, đạo những điều thật hay
Giáo hội mừng kính hôm nay
Mẹ ngài mừng kính vào ngày hôm qua
Tình yêu Thiên Chúa bao la
Muôn đời con sẽ ngợi ca Danh Người
Hôm nay kính nhớ khắp nơi
Sáng nay nhìn ngắm bầu trời sáng choang
Mẹ con rực rỡ huy hoàng
Chúa ban "Hai Thánh" vinh quanh một nhà.
Thanh Sơn 28.08.2010
kính nhớ 2 Thánh Monica ngày 27.08 và Augustino.
ngày 28.08 hằng năm
(Thánh Monica là mẹ của Thánh Austinô)
Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2011
by LTSA
VINH 20-8 (TH) - Một công nhân từng thi rớt trung học phổ thông, không hề nộp đơn xin học và cũng không từng dự thi vào một số trường đại học và cao đẳng, nhưng vẫn nhận được giấy báo “trúng tuyển” và giục đóng tiền.
Theo bản tin báo Ðất Việt hôm Thứ Năm vừa qua, “Hồ Kim Tiến ở Thôn 2, Thạch Thắng, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh chưa tốt nghiệp THPT, không nộp đơn dự thi bất kì trường đại học, cao đẳng nào vẫn nhận được 2 giấy báo trúng tuyển vào cao đẳng”.
Trượt cấp 3 vẫn đỗ cao đẳng
Tờ Ðất Việt kể cho hay, theo nội dung giấy báo nhập học gửi Hồ Kim Tiến, trường Ðại Học Ðiện Lực và trường Cao Ðẳng Công Nghệ và Kinh Tế Kỹ Thuật Công Nghiệp (thuộc Bộ Công Thương) “triệu tập em Tiến nhập học hệ cao đẳng nghề chính quy”.
Nguồn tin cho biết, “giấy báo nhập học do Ðại Học Ðiện Lực gửi cho em Tiến có thông báo ngày 18, 19 tháng 8 nhà trường sẽ làm thủ tục nhập học tại số 1 ngõ 9 đường Minh Khai, thành phố Vinh, Nghệ An. Giấy báo nhập học do phó giáo sư, tiến sĩ Ðàm Xuân Hiệp ký, đóng dấu và tổng số tiền phải đóng khi nhập học là 3,879,000 đồng”.
Trong giấy báo ghi rõ “phải đóng thêm tiền đặt cọc 500,000 để đền bù nếu làm hư hỏng tài sản, và cam kết không bỏ học giữa chừng. Nhà trường sẽ hoàn trả lại khi học sinh ra trường, đối với học sinh thôi học giữa chừng sẽ không được trả lại”.
Ðồng thời, Hồ Kim Tiến “còn nhận được giấy nhập học của trường Cao Ðẳng Công Nghệ & Kinh Tế Kỹ Thuật Công Nghiệp (thuộc Bộ Công Thương) do phó hiệu trưởng Th.S. Ðặng Văn Cừ ký, đến ngày 18, 19 tháng 8, có mặt tại số 255 đường Phong Ðình Cảng, thành phố Vinh, Nghệ An để làm thủ tục nhập học.
Giấy báo nhập học này cũng ghi rõ, khi đến nhập học thí sinh phải mang theo 1,980,000 đồng bao gồm 5 tháng học phí, và tiền hỗ trợ kinh phí đào tạo mỗi tháng 100,000 đồng.”
Thí sinh bất ngờ, nhà trường nhận sai
Báo Ðất Việt nói “Em Hồ Kim Tiến cho biết rất bất ngờ khi nhận được giấy báo trúng tuyển của Ðại Học Ðiện Lực (hệ cao đẳng nghề chính quy) vì em không hề nộp hồ sơ vào trường này”.
Ðược biết, “Tiến sinh ngày 02 tháng 12, 1990 và hiện chưa tốt nghiệp THPT. Năm 2008 Tiến không đỗ tốt nghiệp cấp THPT và hiện vẫn chưa thi lại tốt nghiệp. Hiện Tiến đang đi làm công nhân phổ thông. Do cuộc sống lao động vất vả nên Tiến nghĩ phải kiếm cho mình một nghề để học và phát triển trong tương lai. Vì vậy em đã đăng ký học trung cấp điện tại trường CÐ Công Nghệ & Kỹ Thuật Công Nghiệp”.
Cá nhân Tiến rất bất ngờ vì chỉ nộp đơn xin học hệ trung cấp nhưng lại được tới 2 giấy gọi nhập học hệ cao đẳng. Bên cạnh đó, Tiến xin học tại Hà Tĩnh để tiết kiệm chi phí nhưng lại được thông báo ra học tại thành phố Vinh, Nghệ An để học tập.
Theo Ðất Việt, ông Bùi Ðức Hiền, trưởng phòng đào tạo ÐH Ðiện Lực cho biết, “Hiện tại nhà trường đã nắm được thông tin do báo chí phản ánh và cho rằng đơn vị đào tạo liên kết với trường ÐH Ðiện Lực tại TP. Vinh, Nghệ An đã làm sai quy chế”.
Không thấy ông Hiền giải thích vì sao lại có trường hợp người ta không xin học, không thi, lại vẫn nhận được giấy báo “trúng tuyển”. Bản tin của báo Ðất Việt chỉ nói “Theo lãnh đạo ÐH Ðiện Lực, đối với trường hợp của em Hồ Kim Tiến, nhà trường sẽ liên lạc để giải thích cho em hiểu và khi em đem hồ sơ đến nộp nhà trường sẽ kiên quyết không nhận”.
Ðây không phải là trường hợp duy nhất xảy ra tình trạng không thi mà trúng tuyển. Báo Ðất Việt nói “Trước đó, Bộ GD-ÐT đã có văn bản cấm các trường đại học, cao đẳng gửi giấy báo bừa bãi. Ðể tránh tình trạng ‘loạn’ giấy báo trúng tuyển, một thí sinh nhận được 15-20 giấy báo trúng tuyển như báo chí đã thông tin trong các mùa tuyển sinh 2010. Bộ yêu cầu, năm nay, các trường đại học, cao đẳng không được gửi giấy triệu tập trúng tuyển cho thí sinh không nộp hồ sơ đăng ký xét tuyển vào trường.”
Vậy mà vẫn xảy ra.
Báo Ðất Việt còn thêm “Xiết chặt hơn nữa vấn đề này, bộ có thêm quy định hình thức kỷ luật cán bộ tuyển sinh vi phạm quy chế là: Cảnh cáo đối với những người gửi giấy triệu tập trúng tuyển cho thí sinh không nộp hồ sơ đăng ký xét tuyển vào trường hoặc thông báo nhận và kết thúc việc nhận hồ sơ đăng ký xét tuyển của thí sinh không đúng thời gian quy định”.
Lãnh đạo Bộ GD&ÐT cho biết: “Tuyển sinh 2011, bộ tăng cường xiết chặt kỷ luật thi cử, bất cứ cán bộ nào vi phạm cũng sẽ chịu kỷ luật nghiêm khắc”.
Thứ Tư, 17 tháng 8, 2011
by LTSA
Những người quan sát nhân quyền đã bận rộn tại Việt Nam trong mấy tuần vừa qua, với hai vụ xử các nhân vật bất đồng chính kiến, một vụ biểu tình quy mô lớn phản đối việc chiếm dụng đất và vụ bắt giữ một số người chỉ trích chính phủ khác. Một số chuyên gia phân tích nói rằng một vụ trấn áp mới của chính phủ đang được xúc tiến. Nhưng theo tường thuật của thông tín viên Marianne Brown thì vẫn còn một cuộc phản kháng đang tiếp diễn đi ngược với xu hướng này – đó là các cuộc biểu tình chống Trung Quốc về vấn đề lãnh hải ở Biển Đông.
Hình: REUTERS
Biểu tình chống Trung Quốc lần thứ 10 ở Hà Nội, ngày Chủ nhật 14/8/2011
Chủ nhật vừa qua là cuộc biểu tình chống Trung Quốc lần thứ 10 ở Hà Nội. Các cuộc tụ tập khởi sự hồi đầu tháng 6 sau khi Việt Nam than phiền rằng một tàu tuần tra của Trung Quốc đã cắt một dây cáp của một tàu thăm dò dầu khí hoạt động ngoài khơi duyên hải Việt Nam.
Cả Việt Nam lẫn Trung Quốc đều nhận chủ quyền dãy đảo trong vùng biển này, được cho là giàu trữ lượng dầu khí.
Đó là một đề tài dễ gây xúc động đối với nhiều người Việt Nam, và đã châm ngòi cho lòng yêu nước mãnh liệt của đám đông. Ông Hà, một chuyên viên thảo chương điện toán dự cuộc biểu tình, gọi các hành động của Trung Quốc là xâm lấn các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Ông Hà nói một cuộc tập trận mới đây của quân đội Trung Quốc gần đường biên giới Việt-Trung đe dọa đến lãnh thổ Việt Nam. Ông nói ông đi dự biểu tình để gửi một thông điệp cho Trung Quốc biết rằng người dân Việt Nam không sợ hãi và sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ tổ quốc.
Vài tuần trước, nhà chức trách Việt Nam đã giải tán các cuộc biểu tình như vậy sau khi mở các cuộc đàm phán với Trung Quốc về vấn đề này. Nhưng sau khi những băng video thu hình công an bắt bớ người biểu tình xuất hiện trên Internet thì những vụ bắt giữ ngưng lại.
Người biểu tình thường gồm các nhà trí thức và blogger nổi tiếng, nhiều người đã vận động cho các vấn đề khác nhau khắp Việt Nam, tỷ như ủng hộ quyền sở hữu đất của Công giáo hay phản đối các mỏ bauxite ở miền trung Việt Nam.
Kinh tế gia Nguyễn Quang A đã tham gia hầu hết các vụ biểu tình. Ông nói các cuộc biểu tình này đã tập hợp nhiều người từ các thành phần khác nhau trong xã hội Việt Nam.
Ông A nói: “Khắp Việt Nam ta thấy nhiều cuộc biểu tình phản đối các vấn đề chiếm dụng đất vân vân, có thể là một vấn đề kinh tế. Cuộc biểu tình này thì hơi khác, đó là vấn đề chủ quyền.”
Ông Quang A nằm trong số 20 nhà trí thức và blogger đã gửi một kiến nghị cho Bộ Ngoại giao yêu cầu công khai hóa các cuộc thương nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Ông Quang A nói dân chúng không có đầy đủ thông tin. Chính phủ Việt Nam cũng có cách riêng để đối phó với vấn đề, để đối diện với thực tế. Ông nghĩ rằng nếu có thêm thông tin, thì sẽ tốt hơn. Dân chúng tôn trọng hoạt động của chính phủ Việt Nam nhưng trong tư cách là người dân, mọi người muốn bầy tỏ ý kiến.
Giáo sư Carl Thayer của trường Đại học New South Wales của Austalia, nói rằng một lý do khiến các cuộc biểu tình chống Trung Quốc được cho phép tiếp tục là bởi vì các cuộc biểu tình này phục vụ cho mục tiêu của chính phủ.
Giáo sư Thayer cho rằng chừng nào các cuộc biểu tình còn ủng hộ chính phủ thì không thành vấn đề, nhưng một khi chỉ trích cách thức xử lý chế độ, thì sẽ có phản ứng. Đương nhiên, đó là điều cảm nghĩ của chính phủ: rằng chúng tôi có vấn đề với các ông Trung Quốc.
Giáo sư Thayer nó chính phủ Việt Nam còn đang quyết định xem cách nào để giải quyết vấn đề với Trung Quốc. Ông nói sự kiện thiếu một chính sách rõ rệt về các vụ biểu tình cho tấhy chính phủ không thống nhất về vấn đề này.
Ông Thayer cho biết một trong các nguồn tin của ông là một ký giả, cách đây 1 tháng đã đề cập đến việc giới lãnh đạo chia rẽ nhau ra sao. Nguồn tin này nói rằng báo Đảng và tạp chí lý thuyết của đảng chưa đưa ra hướng dẫn cụ thể và đây là bằng chứng cho thấy đảng chia rẽ về cách thức giải quyết.
Hôm 7 tháng 8 đã có một vụ biểu tình khác ở thành phố Vinh, nơi có 750 giáo khu.
Tin tức của giới truyền thông nói khoảng 3.000 người đã tề tựu tại giáo phận Vinh để biểu tình phản đối cách thức chính phủ đối xử với người Công giáo.
Trong khi một số bài báo nói rằng vụ tranh chấp chủ yếu là về đất đai của giáo hội mà chính phủ muốn trưng dụng, luật sư Công giáo Lê Quốc Quân nói rằng dân chúng địa phương đang có lập trường chống lại các hành vi đàn áp tôn giáo rộng lớn hơn.
Luật sư Quân nói rằng chính phủ đang tìm cách hạn chế quyền của những người theo Thiên chúa giáo. Họ tìm cách yêu cầu dân chúng đăng ký tôn giáo và các học sinh Thiên chúa giáo không được theo học trường đại học quân sự hay Đại học Công an. Họ sẽ khó nộp đơn xin việc và sẽ không được thăng chức. Họ vẫn còn bị coi là “công dân hạng hai.”
Hoa Kỳ, các giới chức châu Âu và các tổ chức nhân quyền quốc tế đã lên án những vụ bắt giữ và nói các vụ bắt giữ này đi ngược lại cam kết của Việt Nam tôn trọng các Quyền cơ bản của con người.
Bà Nguyễn Phương Nga của Bộ Ngoại giao Việt Nam bác bỏ lời chỉ trích đó trong một cuộc họp báo với các phóng viên. Bà Nga nhấn mạnh rằng các vấn đề đối với người Thiên chúa giáo có liên quan đến đất đai, chứ không liên quan đến tôn giáo.
Qua một thông dịch viên, bà Nga nói có một điều bà có thể nói về nhân quyền ở Việt Nam là nhân quyền được tôn trọng ở Việt Nam, được ghi trong hiến pháp và được tôn trọng trên thực tế.
Tuy các giới chức Việt Nam tiếp tục vạch một đường giới hạn thận trọng về các cuộc biểu tình nào họ sẽ cho phép và các cuộc biểu tình nào bị cấm đoán, các quan sát viên như ông Carl Thayer nói rằng sự dung túng dành cho các cuộc biểu tình chống Trung Quốc là một dấu hiệu chính về cách thức của chính phủ trong các cuộc đàm phán với Trung Quốc.
Ông Thayer cho biết tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam sẽ đi Trung Quốc vào cuối năm nay và theo ông ta sẽ thấy chính phủ tìm cách xoa dịu mọi việc khi nào lịch trình chuyến đi được xác định. Nó cũng giống như việc phóng thích một nhân vật bất đồng chính kiến nào đó để tìm cách lấy được một cái gì của chính phủ Hoa Kỳ.
Trong khi nhà cầm quyền bắt giữ thêm các nhân vật bất đồng tham gia các cuộc biểu tình bị cấm, các quan sát viên bên ngoài nói rằng chính phủ đang phải đối phó với một cuộc chiến leo thang với sự bất mãn của công chúng về tình hình kinh tế ngày càng bết bát. Việt Nam có tỷ lệ lạm phát nằm trong số cao nhất trên thế giới và mức thâm hụt mậu dịch hai con số, gây trì trệ cho tăng trưởng và khiến cho các mặt hàng tiêu thụ ngày càng đắt đỏ.
Gởi Bài Viết
Thông Báo
Mời ghé thăm
Bài Cũ
-
▼
2013
(1888)
- ► 10/27 - 11/03 (76)
- ► 10/20 - 10/27 (238)
- ► 10/13 - 10/20 (104)
- ► 10/06 - 10/13 (1)
- ► 09/29 - 10/06 (1)
- ► 09/22 - 09/29 (14)
- ► 09/15 - 09/22 (27)
- ► 09/08 - 09/15 (61)
- ► 09/01 - 09/08 (30)
- ► 08/25 - 09/01 (69)
- ► 08/18 - 08/25 (50)
- ► 08/11 - 08/18 (50)
- ► 08/04 - 08/11 (66)
- ► 07/28 - 08/04 (137)
- ► 07/21 - 07/28 (53)
- ► 07/14 - 07/21 (61)
- ► 07/07 - 07/14 (86)
- ► 06/30 - 07/07 (90)
- ► 06/23 - 06/30 (91)
- ► 06/16 - 06/23 (58)
- ► 06/09 - 06/16 (69)
- ► 06/02 - 06/09 (36)
- ► 05/26 - 06/02 (60)
- ► 05/19 - 05/26 (93)
- ► 05/12 - 05/19 (63)
- ► 05/05 - 05/12 (38)
- ► 04/28 - 05/05 (7)
- ► 04/21 - 04/28 (13)
- ► 04/14 - 04/21 (17)
- ► 04/07 - 04/14 (7)
- ► 03/31 - 04/07 (7)
- ► 03/24 - 03/31 (13)
- ► 03/17 - 03/24 (10)
- ► 03/10 - 03/17 (13)
- ► 03/03 - 03/10 (17)
- ► 02/24 - 03/03 (8)
- ► 02/17 - 02/24 (8)
- ► 02/10 - 02/17 (1)
- ► 02/03 - 02/10 (9)
- ► 01/27 - 02/03 (4)
- ► 01/20 - 01/27 (13)
- ► 01/13 - 01/20 (7)
- ► 01/06 - 01/13 (11)
-
►
2012
(1373)
- ► 12/30 - 01/06 (7)
- ► 12/23 - 12/30 (5)
- ► 12/16 - 12/23 (19)
- ► 12/09 - 12/16 (15)
- ► 12/02 - 12/09 (15)
- ► 11/25 - 12/02 (31)
- ► 11/18 - 11/25 (16)
- ► 11/11 - 11/18 (17)
- ► 11/04 - 11/11 (15)
- ► 10/28 - 11/04 (33)
- ► 10/21 - 10/28 (47)
- ► 10/14 - 10/21 (80)
- ► 10/07 - 10/14 (65)
- ► 09/30 - 10/07 (80)
- ► 09/23 - 09/30 (119)
- ► 09/16 - 09/23 (151)
- ► 09/09 - 09/16 (163)
- ► 09/02 - 09/09 (48)
- ► 08/26 - 09/02 (205)
- ► 08/19 - 08/26 (12)
- ► 08/12 - 08/19 (8)
- ► 08/05 - 08/12 (9)
- ► 07/29 - 08/05 (6)
- ► 07/22 - 07/29 (4)
- ► 07/15 - 07/22 (7)
- ► 07/08 - 07/15 (9)
- ► 07/01 - 07/08 (8)
- ► 06/24 - 07/01 (1)
- ► 06/17 - 06/24 (15)
- ► 06/10 - 06/17 (15)
- ► 06/03 - 06/10 (5)
- ► 05/27 - 06/03 (29)
- ► 05/20 - 05/27 (8)
- ► 05/13 - 05/20 (6)
- ► 05/06 - 05/13 (3)
- ► 04/29 - 05/06 (16)
- ► 04/22 - 04/29 (5)
- ► 04/15 - 04/22 (8)
- ► 04/08 - 04/15 (4)
- ► 04/01 - 04/08 (4)
- ► 03/18 - 03/25 (8)
- ► 03/11 - 03/18 (5)
- ► 03/04 - 03/11 (4)
- ► 02/26 - 03/04 (6)
- ► 02/19 - 02/26 (22)
- ► 02/12 - 02/19 (3)
- ► 01/08 - 01/15 (11)
- ► 01/01 - 01/08 (1)
-
►
2011
(293)
- ► 12/25 - 01/01 (4)
- ► 12/18 - 12/25 (5)
- ► 12/11 - 12/18 (5)
- ► 12/04 - 12/11 (7)
- ► 11/27 - 12/04 (4)
- ► 11/20 - 11/27 (3)
- ► 11/13 - 11/20 (4)
- ► 11/06 - 11/13 (6)
- ► 10/30 - 11/06 (1)
- ► 10/23 - 10/30 (2)
- ► 10/16 - 10/23 (3)
- ► 10/02 - 10/09 (1)
- ► 09/18 - 09/25 (1)
- ► 09/11 - 09/18 (3)
- ► 09/04 - 09/11 (3)
- ► 08/28 - 09/04 (4)
- ► 08/21 - 08/28 (3)
- ► 08/14 - 08/21 (1)
- ► 08/07 - 08/14 (4)
- ► 07/17 - 07/24 (8)
- ► 07/10 - 07/17 (10)
- ► 07/03 - 07/10 (11)
- ► 06/26 - 07/03 (7)
- ► 06/19 - 06/26 (7)
- ► 06/12 - 06/19 (14)
- ► 06/05 - 06/12 (6)
- ► 05/29 - 06/05 (17)
- ► 05/22 - 05/29 (9)
- ► 05/15 - 05/22 (20)
- ► 05/08 - 05/15 (24)
- ► 05/01 - 05/08 (11)
- ► 04/24 - 05/01 (15)
- ► 04/17 - 04/24 (4)
- ► 04/10 - 04/17 (8)
- ► 04/03 - 04/10 (4)
- ► 03/27 - 04/03 (4)
- ► 03/20 - 03/27 (2)
- ► 03/13 - 03/20 (2)
- ► 02/27 - 03/06 (3)
- ► 02/20 - 02/27 (3)
- ► 02/13 - 02/20 (6)
- ► 02/06 - 02/13 (6)
- ► 01/30 - 02/06 (5)
- ► 01/23 - 01/30 (15)
- ► 01/16 - 01/23 (3)
- ► 01/09 - 01/16 (5)
