Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2011 by LTSA

NHỚ MẸ
(Viết để nhớ Mẹ trong mùa Vu lan 1998
Thân tặng các bạn đồng tâm cảnh)



Hôm nay nhớ Mẹ ôi nhiều quá
Ba chục năm dư vắng Mẹ rồi
Nỗi nhớ se lòng, day dứt lạ
Trong mùa lễ nhớ. Mẹ hiền ơi!

Cuối hè, thiên hạ vui như nắng
Con lại buồn hơn tiếng lệ rơi
Con nhớ mùa Xuân đau đớn ấy
Mùa Xuân con mẹ khóc chia phôi

Mùa Xuân Mẹ bỏ con đi mãi
Biền biệt bao năm chẳng trở về
Hai chục tuổi đời, con, trẻ dại
Lần đầu nhỏ lệ khóc phân ly

Lần đầu con khóc ai ngờ lại
Khóc Mẹ! Trời ơi, thật não lòng
Con lớn vội vàng như Mẹ vội
Trở về với đất, với hư không!

Cút côi lại gặp thời tao loạn
Thì trách đời chi chuyện bạc lòng
Cơm áo từ đong bằng nước mắt
Con càng thương Mẹ. Nhớ vô song!

Mỗi lần nhớ Mẹ con thường mở
Tủ Mẹ, con tìm áo Mẹ xưa
Lặng ngắm hằng giờ từng mũi chỉ
Rồi ôm chặt áo, khóc như mưa !!!

Vuì đầu trong áo. Hôn lên áo
Cố gắng con tìm một chút hương
Để dỗ lòng mình là Mẹ vẫn
Bên đời, an ủi lúc đau thương

Thế rồi một buổi con đành phải
Từ giã trường xưa, bỏ phố xưa
Để đến một trời xa lạ lắm
Mà bao bất trắc biết đâu ngờ

Hành trang: Bốn đứa con thơ dại
Áo Mẹ. Hờn vong quốc. Tập thơ
Cuối chuyến hải hành còn sót lại
Kiếp tha hương và đám con khờ !

Quê người đất khách buồn ghê lắm
Tất tả xoay che gió bốn mùa
Nhớ Mẹ bây giờ không có áo
Để mà úp mặt khóc như xưa!

Để mà tìm chút mùi hương Mẹ
Con dỗ con cho bớt tủi lòng
Ba chục năm trời xa cách thế
Suối vàng Mẹ hỡi, nhớ con không?!

Chiều nay nhớ Mẹ con ngồi viết
Một khúc thơ buồn, chín khúc đau
Xin Mẹ linh thiêng về chứng giám
Ba mươi năm, một ý thơ sầu...


Ngô Minh Hằng
by LTSA

Người thân anh Lữ Văn Tới (33 tuổi) ở bản Cồng xã Châu Hồng (Quỳ Hợp-Nghệ An) gửi đến ngành chức năng tố mình bị một nhóm người đánh dã man. Nguyên nhân là do Tới bị nghi ăn đã ăn trộm quặng của ông chủ.

Theo phản ảnh gia đình anh Tới thì hơn 12h ngày 1/5 vừa qua do nghi ngờ anh này ăn trộm quặng nên ông chủ ở xóm 11 xã Tân Hợp (Tân Kỳ-Nghệ An-Tới làm thuê tại đây) đã bị một nhóm người bắt và tra hỏi chuyện mất quặng.

Anh Tới không thừa nhận chuyện này nên đã bị nhóm người trên đánh đập. Chưa hết, khi thấy Tới gục xuống nhóm người đã lấy muối và nước mắm xát vào vết thương ở lưng.

Nạn nhân Tới đang điều trị tại Bệnh viện huyện Nghĩa Đàn.



Tới vẫn không thừa nhận thì bị nhóm người này dìm vào một hố bùn. Mặc dù, anh Tới van xin nhưng nhóm người này vẫn không buông tha. Chỉ đến khi thấy Tới bị ngất nên bọn chúng đã đem đến trạm xá xã Tân Hợp rồi bỏ đi.

Ngay sau đó, anh Tới được đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện huyện Nghĩa Đàn. Theo những người chứng kiến thì anh Tới bị đánh từ 13h cho đến gần 17h cùng ngày. Điều lạ là không ai dám can ngăn vì có sự xuất hiện của một tay “anh chị”.

Theo bác sỹ Nguyễn Vĩnh Hạnh-Trưởng khoa ngoại Bệnh viện huyện Nghĩa Đàn thì anh Tới bị chấn thương phần mềm. Phần mông, lưng, ngực bị bầm, tím. Được biết Tới đi làm thuê cho một ông chủ ở xã Tam Hợp mấy tháng nay nhưng chưa nhận được lượng thì xảy ra sự việc trên.

Trao đổi với báo chí, thượng tá Dương Phúc Thành-Trưởng công an huyện Tân Kỳ thừa nhận đã nhận được đơn của gia đình nạn nhân Tới. Hiện sự việc đang được công an huyện Tân Kỳ điều tra làm rõ.
Nguyên Nghĩa

http://vietnamdanchu.multiply.com/journal/item/8110
by LTSA

Nhiều nhân viên ngành nail có triệu chứng liên quan tới các hóa chất chúng tôi đã nghiên cứu...'

Tiến sĩ Quách Thu thuộc Trung Tâm Cancer Prevention Institute of California (CPIC), có nỗi đau riêng là mẹ của cô, vốn là một người gốc Việt di dân hành nghề thẩm mỹ ở Hoa Kỳ, đã chết vì bệnh ung thư.

Giờ đây phần lớn công trình nghiên cứu của cô để xem lượng hóa chất được sử dụng trong các nail salon ra sao và cô đã khám phá những người nhân viên làm việc ở các salon này, vốn đại đa số là người gốc Việt, bị tiếp xúc với hóa chất độc hại một cách không an toàn.

Kết quả nghiên cứu của tiến sĩ Thu và các đồng viện vừa được công bố thứ năm 5/5 trên cơ quan truyền thông American Journal of Public Health.

Kết quả cho thấy có sự hiện diện của Methyl Methacrylate, một thành tố bị cơ quan liên bang FDA cấm, trong các phòng nail và hàm lượng của toluence cao gấp đôi hàm lượng mà cơ quan Cal/EPA xem là an toàn.

Tiến sĩ Thu nói: ‘Nhiều nhân viên ngành nail có triệu chứng liên quan tới các hóa chất chúng tôi đã nghiên cứu. Chúng tôi lo lắng cho sức khỏe của họ, đặc biệt những người tiếp xúc với hóa chất trong thời gian dài’.

Toluence là chất có thể gây ra bệnh hiếm muộn con cái cho phụ nữ, nếu họ tiếp xúc với nó với liều lượng cao và lâu dài. Ngoài ra nó còn ảnh hưởng đến các tuyến nội tiết của cơ thể, vì thế người phụ nữ có thể mắc ung thư ở các cơ quan sinh dục.

Methyl methacrylate là hóa chất bị FDA cấm từ năm 1974 trong các sản phẩm ngành nail. Nó làm ngứa ngáy mũi và cổ họng, nhứa đầu, ngứa trên da và có thể gây bệnh suyễn.

Các nhân viên gốc Việt đang làm việc trong ngành nail được khuyên nên vào Web site có tên là www.cpic.org. của Viện CPIC để tham khảo, nhất là cách thức phòng ngừa bệnh ung thư.
by LTSA

Lịch sử chỉ đánh giá đúng anh hùng khi người anh hùng nằm yên dưới mộ. Ngày của Mẹ, của Cha năm thứ 36 của tập thể người Mỹ gốc Việt này,, số những người cha, người mẹ Việt Nam đầu tiên đưa gia đình tỵ nạn CS ở hải ngoại chắc cũng không còn nhiều lắm. Đây là cơ hội tốt để thấy công ơn trời biển của những người cha, người mẹ đã liều mình đưa con cái đến bến bờ tự do và quên mình nơi quê hương mới, lao động chân tay cắt chỉ, ũi đồ, cắt cỏ, nấu cơm tháng mướn để lo có tiền cho con cái - là lớp trẻ Việt hải ngoại -- ăn học, trưởng thành được như ngày hôm nay.

36 năm là thời gian gần nửa đời người, hơn một thế hệ xã hội học. Thế hệ thứ nhứt đại đa số là những quân dân cán chánh VN Cộng Hoà dẫn gia đình con cái đi tỵ nạn CS ở hải ngoại, lúc bấy giờ trẻ nhứt cũng 30, năm nay đã hơn sáu bó rưởi, bảy bó cả rồi. Những người cha, người mẹ đó thường là những người đã có ăn học, nghề nghiệp, chức vụ trong chế độ VNCH, người trẻ nhứt lúc bấy giờ cũng phải khoảng 40. Dù nhờ y tế tân tiến, chế độ tư do, tự tại, môi trường trong lành, đời sống hải ngoại đầy đủ làm tuổi thọ gia tăng, những người cha người mẹ thuộc thế hệ thứ nhứt của cuộc di tản vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Việt đó, nay tuổi hạc cũng đã quá thất thập cổ lai hi rồi. Không ít người đã ra đi; số còn lại cũng mấp mé bờ sanh tử theo luật vô thường của Tạo Hoá và vòng sanh lão bịnh tử của kiếp con người.

Tre tàn măng mọc là qui luật sinh tồn. Con hơn cha nhà có phước, sau hơn trước đất nước có phần là đà tiến hoá của một dân tộc. Hậu duệ của người cha người mẹ đến bến bờ tự do, đứa con sanh sớm nhứt tại nước hải ngoại bây giờ cũng tròn 36 tuổi. Có người gọi là thế hệ thứ hai bây giờ cũng đã tứ thập tri thiên mạng rồi. Còn thế hệ thứ ba thì nhiều lắm đang đại học hay ngoài đời, hoà nhập sâu sát vào xã hội Mỹ. Dù có bi quan và khiêm tốn sắc tộc thế mấy đi nữa cũng thấy lớp người hậu duệ của những bậc cha mẹ thuộc thế hệ thứ nhứt của những người Việt tỵ nạn CS, không thua sút bất cứ sắc tộc nào đã nhập cừ các siêu cường Tây Phương hàng thế kỷ trước. Đặc biệt ở Mỹ là hiệp chủng quốc, nơi người Việt định cư đông nhứt trên thế giới, những cố gắng vươn lên, thăng tiến cần lao đồng tiến xã hội của người gốc Việt thấy rõ nhứt. Bác sĩ, luật sư, kỹ sư, giáo sư, chuyên viên gốc Việt đã bảo hòa so với tỷ lệ dân số gốc Việt. Ngành nào lớp trẻ VN cũng có mặt, quân dân cán chính của Mỹ đều có người gốc Việt chen vai sát cánh với những sắc tộc khác .

Sự thành công này của thế hệ hậu duệ theo phân tích và nhận định của những nhà xã hội học là do yếu tố gia đình VN. Nói đến gia đình VN là nói đến cha mẹ. Gia đình tự nó là một nhóm xã hội (social group). Bất cứ nhóm xã hội nào cũng có sự lãnh đạo mới mưu cầu hạnh phúc và thăng tiến được. Nhóm xã hội gia đình VN, người cha thường đóng vai trò lãnh đạo thực hiện (instrumental leadership), nặng về lý trí, thực tiễn, đòi hỏi con cái phải thực hiện hoàn thành nhiệm vụ của gia đình. Do đó người cha tỏ ra cứng rắn với con cái và ít được con cái thân tình như đối với mẹ. Còn người mẹ đóng vai trò lãnh đạo hoà họp, tạo sự thông cảm chung, hạnh phúc, êm ấm chung cho gia đình nên được lòng con cái hơn người cha. Hai thể thức lãnh đạo này không xung khắc nhau mà bỗ túc cho nhau, làm gia đình VN phát triển tốt trong xã hội Tây Phương và làm cho lý do lớp trẻ VN thăng tiến nhanh trong xã hội các quốc gia định cư cách nước nhà có nơi nửa vòng Trái Đất.

Trên đường định cư cũng như trên bất cứ đường đời mới, vạn sự khởi đầu nan. Cha mẹ lấy thân phận lót đường cho con cái để lớp trẻ có ngày nay. Hầu hết thế hệ thứ nhứt hy sinh quên mình, để dĩ vãng qua một bên, hướng về tương lai phía trước, lo cho gia đình thăng tiến. Tướng lãnh Quân Lực VNCH không ngần ngại đi làm người lau cửa sổ cho các building, người quản lý nhà hàng (như Tướng Đồng văn Khuyên). Nghị sĩ, dân biểu VNCH đi bán xăng, bán tiệm rượu, làm thợ nhà in, thợ lắp ráp điện tử, bán thịt cá cho chợ. Công chức cao cấp đi cắt chỉ, ủi đồ, cắt cỏ, làm móng tay, làm mặt trong thời kỳ chân ướt chân ráo. Làm với tất cả lòng tận tụy, với sự hiểu biết và tin tưởng nơi lớp trẻ tiến lên, tiến thân.

Con cái vần công, cùng nhau xây đấp đại gia đình. Một chiếc xe đôi ba anh chị em chia giờ nhau đi và đưa rước nhau. Anh học ra trường tiếp cha mẹ đóng tiền trường cho em đi đại học cao hơn. Cả nhà chung đậu tiền cho người anh mua căn nhà đầu tiên và anh tiếp tay em mua căn nhà hay sang căn tiệm mới. Việc đó thực hiện được nhờ sự lãnh đạo thực hiện và hoà họp của cha mẹ.

Sự kết họp này có và làm được là do tình thương gia đình, và chữ tín nghĩa này có và mạnh hơn mọi credit mà ngân hàng nào có thể so sánh được. Bất thành văn tự nhưng long trọng và chắc chắn như nền tảng gia đình VN.

Do vậy Ngày Của Mẹ, Của Cha thứ 36 của người Mỹ gốc Việt này là ngày tưởng nhớ tới những người cha người mẹ đã dẩn dắt con ra khỏi chế độ CS, đến miền Đất Hứa. Ngày tưởng nhớ những hy sinh của những người cha người mẹ lót đường cho cái tiến thân nơi quê hương mới. Ngày ngưỡng mộ lòng dũng cảm của những người cha người mẹ vượt qua mọi khó khăn, thử thách, một ngày 24 giờ, 1 tuần 7 ngày để con cháu được như ngày nay. Lòng dũng cảm của những người mẹ người cha đó can đảm hơn người chiến sĩ can trường xung phong ngoài mặt trận vì giờ phút can đảm xung phong ngắn hơn, ít khi xảy ra hơn so với lòng dũng cảm gần như suốt đời của cha mẹ.

Chẳng những thế có nhiều cha mẹ gốc Việt còn muốn hy sinh cho con khi mình không còn ở cõi trần này nữa. Nhiều người cha người mẹ dặn dò hay di chúc cho con cái, sau khi theo ông theo bà, thì con cái đem hoả thiêu, lấy tro đem rải ngoài biển hay gởi trong chùa. Vì không muốn đem tro xương của mình trở lại nước nhà còn nằm trong tay CS. Vì biết con cháu ở xứ văn minh kỹ nghệ, quá bận bịu này phải chạy theo việc làm, thường khi phải ở xa, ngày giỗ tết, thanh minh mà vì kẹt công việc làm ăn không về viếng mộ được, thì bùi ngùi, tủi buồn tội nghiệp. Trong những lý do vệ sinh, giản dị, niềm tin tôn giáo, nhiều gia đình VN bớt theo phong tục Việt sống cái nhà chết cái mồ, mà chấp nhận hoả táng thân nhân, lấy tro rải biển hay gởi ở chùa, có lý do gia đình ấy./.(Vi Anh)
by LTSA

HOA TRẮNG
(Tháng Năm, kính dâng Me.. Thân tặng các bạn đồng tâm cảnh)



Áo người hoa đỏ người vui
Áo con hoa trắng ngậm ngùi phận con
Mẹ ơi ba chục năm hơn
Hoa kia mấy độ tủi hờn với hoa
Cõi trần từ mẹ lìa xa
Đau thương, thân phận con là mồ côi
Đưa tay hái mộng, mộng trôi
Lỡ chân vấp ngã không người dìu nâng
Hoa không làm được mùa Xuân
Trăng không làm nổi một lần sáng trăng
Đã bao nhiêu độ tháng Năm
Nhìn người hoa đỏ con thầm lệ rơi
Đoạn trường ai vẽ mẹ ơi
Âm dương hai cảnh, hai nơi chia lìa
Cõi tiên vội vã mẹ về
Đường trần con mẹ não nề tiếc thương
Lòng con, đây, một nén hương
Đốt lên, khói mỏng như sương, nhạt mờ...
Nhìn bông hoa trắng bơ vơ
Mẹ ơi lệ đẵm hai bờ mắt nâu...

Ngô Minh Hằng


Xin mời Quí Vị và Quí Bạn đọc thơ NMH tại :

http://thongominhhang1.blogspot.com/
http://lhccshtd.org/index.htm

http://lhccshtd.org/LHCCSHTD_VT/NMH/LHCCSHTD_VT_TrangNhaNgoMinhHang.htm
Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2011 by LTSA

Tổng giáo phận Sài Gòn đã loại bỏ một linh mục ứng cử viên cho cuộc bầu cử Quốc hội, nhưng hiện tượng một số giáo sĩ người làm việc nhiều hay ít một cách công khai với chế độ này là một vấn đề nghiêm trọng đáng quan tâm, bởi vì cuối cùng nó sẽ dẫn đến việc loại bỏ các tín hữu. Một linh mục đã phá vỡ buổi cầu nguyện của các giáo dân khi họ đang đọc Kinh Mân Côi để kêu gọi họ ra tham gia cuộc họp tuyên truyền bầu cử.

Hà Nội (AsiaNews) – Các cuộc bầu cử Quốc hội, Hội đồng Nhân dân đang tới gần, với sự đề cử của ba linh mục, đã một lần nữa nhấn mạnh đến những vấn đề của “các linh mục của nhà nước” dẫn đến sự đau đớn tột cùng cho của Giáo Hội Việt Nam. Những người đã sử dụng và lạm dụng tài sản nhà thờ và vai trò của họ để hỗ trợ cho Đảng Cộng sản, đổi lại, khi nào họ cần thì họ sẽ nhận được sự hỗ trợ của nhà nước, chính bởi những hành vi của họ đã dẫn dắt các tín hữu tới con đường bỏ đạo.

Tổng giáo phận Sài Gòn đã loại bỏ một trong những ứng cử viên, Cha Phan Khắc Từ, người phụ trách tờ báo “Công giáo và dân tộc” tạp chí được thành lập năm 1975, khi thống nhất của đất nước, với sự hỗ trợ của chính phủ và ông đã trở thành nổi tiếng với những chỉ trích thường xuyên nhằm vào GH John Paul II và Vatican. Chiến dịch của ông đã nhấn mạnh sự tham gia của ông trong chiến tranh, kể từ khi ông tuyên bố đã thiết lập một xưởng chế tạo bom để sử dụng chống lại các binh sĩ Mỹ. “Một quyết định mà chúng tôi rất lưu ý”, Cha Peter Nguyễn đã cho biết thêm: “giữa hành vi đối lập của ông ta và những yêu cầu của giáo luật đã được nhấn mạnh bởi một số tổ chức như Công Giáo AsiaNews, Catholic World News, VietCatholic News và những nơi khác trên thế giới” .

Ở những nơi khác, như ở Thái Bình, sự tham gia của một linh mục trong chiến dịch bầu cử đã tạo ra một sự phản ứng mạnh mẽ của các tín hữu. Về đến nhà thờ của Trung Châu, ngày 29 tháng 4, giáo dân đã thấy linh mục của họ có vấn đề bất thường, cha Vinh Sơn Phạm Văn Tuyên, người thay vì chuẩn bị dâng Thánh Lễ thì lại căng lều tổ chức một cuộc họp với với các lạnh đạo cấp cao của tỉnh để khởi động chiến dịch tranh cử (xem ảnh).
by LTSA

Giới hữu trách Việt Nam đã truy tố một cựu tiếp viên hàng không vì dọa có hành khách mang bom trên chuyến bay.

Bản tin hôm thứ 5 của hãng thông tấn Đức trích thuật tin tức báo chí Việt Nam nói rằng ông Nguyễn Bằng Việt, 37 tuổi, cựu nhân viên của Vietnam Airlines, bị truy tố về tội “cản trở giao thông hàng không”.

Cảnh sát Việt Nam cho biết hồi đầu tháng 11 năm ngoái, nghi can này đã gởi tin nhắn tới điện thoại di động của bà Phạm Thị Phương Hải, trưởng đoàn tiếp viên của chuyến bay của Vietnam Airlines từ Việt Nam đi Campuchia, nói rằng có hành khách mang bom.

Chuyến bay đã bị hủy và hơn 100 hành khách phải chuyển sang các chuyến bay khác. Sau khi tiến hành cuộc kiểm tra, giới hữu trách không tìm thấy chất nổ và nghi can này bị bắt sau khi công an truy ra số điện thoại.

Ông Nguyễn Bằng Việt thừa nhận là ông đã làm như vậy vì có xích mích với bà Phạm Thị Phương Hải.

Vietnam Airlines cho biết việc chuyển hành khách và kiểm tra máy bay làm cho công ty này thiệt hại hơn 10 ngàn đô la.

Nguồn: dpa, Cong an Nhan dan
by LTSA

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng gặp gỡ Chủ tịch Ngân hàng Phát triển Á châu (ADB) bên lề hội nghị thường niên của ngân hàng này ở Hà Nội.

Bản tin của Tân Hoa Xã cho biết hôm thứ 5 ông Nguyễn Tấn Dũng đã tiếp kiến ông Haruhiko Kuroda, người đến dự cuộc họp hàng năm của Hội đồng Quản trị ADB, được tổ chức lần đầu tiên tại Việt Nam.

Ông Nguyễn Tấn Dũng cho biết trong quá trình phát triển của mình Việt Nam đã nhận được sự trợ giúp có hiệu quả của ADB và Việt Nam mong muốn tiếp tục nhận được hỗ trợ. Ông Dũng cũng hứa hẹn là Việt Nam sẽ sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn vay của ADB.

Ông Kuroda đánh giá cao sự phối hợp của Việt Nam trong việc tổ chức hội nghị thường niên của ADB và khẳng định rằng ngân hàng này sẽ tiếp tục gia tăng các khoản cho vay ưu đãi dành cho Việt Nam, đặc biệt là cho những dự án về môi trường, hạ tầng giao thông, và xóa đói giảm nghèo.

Ông Kuroda cũng bày tỏ tin tưởng là nhờ vào những biện pháp kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế Việt Nam sẽ phát triển nhanh và bền vững.

Sau cuộc gặp gỡ này, ông Nguyễn Tấn Dũng và các giới chức cao cấp khác đã chứng kiến lễ ký kết giữa Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu và Chủ tịch ADB Kuroda về khoản vay 1,38 tỉ đô la cho các dự án về giao thông, môi trường và nguồn nước.

Nguồn: Xinhua/VietnamPlus
by LTSA

HÀ NỘI (TH) - Một số đông đảo dân chúng thuộc sắc tộc thiểu số Hmong ở huyện Mường Nhé, tỉnh Ðiện Biên đã biểu tình và bắt giữ một số cán bộ nhà nước từ mấy ngày qua.

Bản tin điện tử của đài BBC và một vài blogs đưa tin như vậy về tình hình ở tỉnh Ðiện Biên, một tỉnh phía Tây Bắc của Việt Nam giáp giới với Lào và Trung Quốc.

Theo một blogger thuật lại thì nhà cầm quyền trung ương ở Hà Nội đã gửi tới tăng cường cho lực lượng quân sự và an ninh địa phương 3 chiếc trực thăng và 200 quân, nhiều phần là Cảnh Sát Cơ Ðộng chống biểu tình, bạo động.

Vụ việc xảy ra ở Mường Nhé trong nhiều ngày nhưng truyền thông trong nước hoàn toàn im lặng. Cho đến sáng Thứ Năm, 5 tháng 5 (giờ Việt Nam), kể cả báo in lẫn báo điện tử tại Việt Nam đều không có tin tức.

Một nhà báo ở Sài Gòn cho báo Người Việt biết, ‘Mấy vụ này không mong gì truyền thông trong nước có thông tin. Báo chí sẽ được lệnh không được dây vào cho đến khi cấp trên cho phép.’

Không có một nguồn tin nào để kiểm chứng tình hình cũng như nguyên nhân dẫn đến biến cố nhưng theo tin đài BBC, số người tham dự vào cuộc biểu tình ở huyện Mường Nhé có thể tới 5,000 người.

BBC đã phỏng vấn ông Giàng A Dình, chủ tịch huyện Mường Nhé và được ông này xác nhận “có ngàn người” và lên án hành động này “chỉ gây ra đổ máu.”

Theo BBC: “Người Hmong cũng bắt giữ một số cán bộ địa phương khi đưa ra yêu sách đòi tự do tín ngưỡng và lập vương quốc riêng.”

Chuyện người Hmong ở Mường Nhé “đòi lập vương quốc tự trị” có đúng vậy không hay chỉ là lời của quan chức địa phương mở đường cho đàn áp thẳng tay?

Nhưng ít nhất, người ta có thể hiểu về một phong trào đòi tự do tín ngưỡng ở các sắc dân thiểu số. Họ xưa nay đã bị dồn nén, đàn áp, cấm đạo mà tin tức chỉ được lộ ra rất rải rác.

Từ khẩu lệnh đến văn bản ép buộc người dân theo đạo Công Giáo và Tin Lành phải viết giấy cam kết bỏ đạo, các buổi lễ, sinh hoạt tôn giáo bị cấm cản gồm cả đánh đập, bắt bớ đã được tường thuật tuy không thấy hàng ngày nhưng cũng đủ hé ra cho thấy có đàn áp tôn giáo không ngừng nghỉ tại Việt Nam. Ðặc biệt là các khu vực xa xôi hẻo lánh.

Ngày 14 tháng 6, 2010, báo Công An Nhân Dân, cơ quan tuyên truyền của Bộ Công An có bài viết bôi bác “Người dân huyện Mường Nhé (Ðiện Biên) chờ được lên... trời.”

Bài viết của CAND nói: “Lực lượng công an phát hiện một số người lén lút tụ tập ở các bản giáp biên... Xác minh được biết hầu hết là những đối tượng bất mãn, tiêu cực, thường xuyên vắng nhà không có lý do... Có hiện tượng này là do một số đối tượng tung tin lừa gạt người nhẹ dạ là sắp có người về đón bay lên... giời.”

Bài báo này kêu gọi người dân địa phương “không mắc mưu kẻ xấu.”

Tỉnh Ðiện Biên, theo thống kê dân số có khoảng 491,000 người gồm 21 sắc tộc. Tỉ lệ sắc tộc Thái khoảng 38%, kế đến là người Hmong với 30% và người Kinh chỉ chiếm 20%, sau đó là các sắc dân khác như Tày, Dao, Giáy, Hà Nhì, Lào, Cống, Si La...

Từ Hà Nội tới thành phố Ðiện Biên là 474km nhưng tới huyện Mường Nhé phải khoảng 700km.

Huyện Mường Nhé là một trong những huyện nghèo nhất trong 62 huyện nghèo trên cả nước. Tỉ lệ hộ nghèo đói ở đây chiếm khoảng 66.18%.

Theo ông giáo Ðỗ Việt Khoa viết trên Blog của ông, hồi năm 2007, giáo viên ở Chua Ta huyện Mường Nhé đã lặn lội về Hà Nội tố cáo tham nhũng trong ngành giáo dục ở địa phương. Ông viết rằng: “Tiếc rằng giáo viên đó đã tốn công vô ích bởi cuộc chiến chống tham nhũng ở Chua Ta không bao giờ có kết quả.”



Các năm 2001 đến 2004, hàng chục ngàn các sắc tộc người Thượng biểu tỉnh ở các tỉnh Tây Nguyên đòi tự do tôn giáo và đất canh tác truyền thống đã bị đàn áp đẫm máu. Hàng ngàn người đã trốn vào rừng sâu hoặc chạy sang Cambodia xin tị nạn.

Nay mới chỉ có tin tức sơ khởi về sự chống đối nhà cầm quyền của người Hmong ở huyện Mường Nhé, tỉnh Ðiện Biên.

Thống kê dân số của nhà cầm quyền cho thấy huyện Mường Nhé có khoảng 52,600 người với khoảng 36,800 người thuộc sắc tộc Hmong.
by LTSA

BÌNH DƯƠNG (TH) - Vợ và gia đình nạn nhân Nguyễn Công Nhựt chết trong tay công an huyện Bến Cát đã từ chối các số tiền phúng viếng của hãng vỏ xe Kumho cũng như của công an tỉnh Bình Dương “hỗ trợ mai táng.”


Tin của báo Pháp Luật cho biết, gia đình nạn nhân hôm 2 tháng 5 đã không nhận 20 triệu đồng gọi là “tiền hỗ trợ mai táng” của công an tỉnh Bình Dương.


Cha ruột của ông Nhật cũng đồng thời từ chối số tiền 20 triệu đồng phúng điếu của công ty Kumho, nơi con của ông làm việc trước khi bị bắt vào ngày 17 tháng 4, 2011.


Ông Nhật bị bắt vì tình nghi có liên can đến vụ thất thoát vỏ xe tại công ty Kumho trị giá 7 tỉ đồng.


Hơn 10 ngày trôi qua kể từ ngày xảy ra vụ chết người tại trụ sở công an Bến Cát thuộc tỉnh Bình Dương, gia đình nạn nhân vẫn quyết liệt đòi đưa ra ánh sáng cái chết đầy uẩn khúc của người thân.


Người chết là Nguyễn Công Nhựt, 33 tuổi, trưởng phòng Quản Lý Sản Phẩm, công ty Kumho, sản xuất vỏ xe tọa lạc tại tỉnh Bình Dương.


Cái chết đột ngột của ông Nhựt để lại nhiều nghi vấn vì công an cung cấp bức thư tuyệt mạng của người chết bị nghi giả mạo; cũng như mãi 1 ngày sau mới cho gia đình hay tin mặc dù vợ của nạn nhân, bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền, đến đồn công an xin gặp mặt chồng mỗi ngày 2 lần mà không được.


Ðáng nói là vợ của nạn nhân đã bị một thiếu tá, cán bộ điều tra tên Nguyễn Thành Phú, gạ gẫm đến khách sạn gặp riêng.


Chưa hết, nạn nhân được thông báo “chết vì thắt cổ” nhưng ở cổ tay, lưng bàn tay, lòng bàn tay và ngón tay đen bầm. Thân thể nạn nhân còn có nhiều vết bầm khác từ bụng đến háng, đùi...


Mặt khác, theo tiết lộ của bác sĩ pháp y bệnh viện Bình Dương với mẹ của nạn nhân thì thân thể nạn nhân có nhiều vết bầm tím, 2 tinh hoàn bị dập nát; chiếc quần đang mặc đẫm máu...


Ngay cả sợi dây mà công an nói nạn nhân đã dùng để siết cổ cũng không trùng khớp: người nói là dây sạc điện thoại, kẻ nói là dây nối camera...

Tin mới nhất của báo Người Lao Ðộng cho biết Thiếu Tá CSVN Nguyễn Thành Phú của Ðội Ðiều Tra Tổng Hợp Công An Thuận An đã bị ngưng chức vì nhiều lần gọi điện thoại gạ gẫm bà Thanh Tuyền đến khách sạn gặp gỡ...

Bà Tuyền đã công bố đoạn băng ghi âm dài hơn 9 phút ghi lại giọng điệu “gạ tình” của Nguyễn Thành Phú, mời mọc bà Tuyền vào khách sạn gặp riêng. Còn bức thư được cho là “thư tuyệt mạng của nạn nhân để lại,” bà Tuyền cho đó là thư giả mạo vì nét chữ không giống nhau; lời lẽ xưng hô cũng hoàn toàn xa lạ với kiểu viết của ông Nhật khi còn sống với vợ của mình.

Trước sự phản ứng quyết liệt của gia đình nạn nhân, sáng ngày 4 tháng 5, ông thiếu tướng giám đốc công an tỉnh Bình Dương mới lên tiếng hứa hẹn “xử lý theo đúng trình tự pháp luật.” Trước đó, ông chánh văn phòng Viện Kiểm Sát tỉnh Bình Dương đổ trách nhiệm cho công an huyện Bến Cát đã “giữ người vượt qui định.”
by LTSA

SÀI GÒN (TH) - Cà phê “ôm” dọc theo quốc lộ 1A trong tỉnh Long An nhiều năm qua nổi tiếng bị dẹp hoài mà không hết.


Chuyện này cũng giống như “cà phê sờ soạng” “tới bến” mọc đầy ở Sài Gòn được báo chí mô tả, kể cả địa điểm ở sát trụ sở công an thành phố.


Theo bản tin của báo Ðất Việt, thỉnh thoảng cũng bị rượt đuổi, bố ráp nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, các quán cà phê “ôm” mọc lên trở lại, dọc theo quốc lộ 1A thuộc tỉnh Long An.


Các vị khách thường xuyên đến uống cà phê ở đây không nói rõ vì sao họ “mê” lui tới chốn này, nhưng ai cũng biết nhiều người đàn ông đã được tiếp viên thực hiện nhiều trò “kích dục.”


Theo nguồn tin, giá tiền “kích dục” là 100,000 đồng, tương đương với 5 Mỹ kim. Các cô tiếp viên phải chia lại một nửa cho chủ quán số thù lao “kích dục” nhận được từ mỗi ông khách.


Báo Ðất Việt cho biết, ngày 4 tháng 5, một cuộc bố ráp diễn ra nhắm vào một loạt quán cà phê nằm dọc theo quốc lộ 1A, từ quán Hằng Phát, Hồng Thắm... cho đến quán “Không Tên.” Ðột kích thình lình, người ta bắt quả tang cảnh các cô tiếp viên đang kích dục cho khách. Tại các quán massage, hát karaoke,... khách cũng có thể được kích dục theo yêu cầu.


Nhiều người cho biết: “Bắt thì bắt, nhưng rồi cũng phải thả người và mọi việc sau đó lại sẽ ‘vẫn như cũ.’”


Mặt khác, trong tháng 4 vừa qua, báo Người Lao Ðộng có nhiều bài viết liên tiếp về “cà phê thác loạn,” “cà phê sờ soạng” thấy tràn lan ở Sài Gòn.


Không những chỉ đầy ngập các quận Bình Tân, quận 11, báo Người Lao Ðộng hai tuần trước ngày 18 tháng 4, 2011 nói “cà phê thác loạn dường như mọc tràn lan khắp Sài Gòn.”


Theo bài viết này: “Ðường Vườn Lài, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú-Sài Gòn, một đoạn chỉ dài khoảng 700 m nhưng có đến 6 quán cà phê kích dục. Các quán này hoạt động rầm rộ từ 7 giờ đến 24 giờ mỗi ngày. Chỉ cần bỏ ra từ 100,000 đồng-120,000 đồng, khách vừa được uống nước vừa được tiếp viên 'chiều' tới bến.”


Tờ báo kể những địa điểm cà phê kích dục ở đường Phạm Thế Hiển, quận 8; đường Ung Văn Khiêm, quận Gò Vấp; đường Phan Văn Trị, Nguyễn Oanh ở Bình Thạnh.


Con đường Minh Phụng thuộc quận 11 “dài chưa đến 2km nhưng có đến gần chục quán cà phê thác loạn.” Có những quán “lúc nào cũng có khoảng 15 tiếp viên mặc đồ lót sẵn sàng ngồi sẵn chờ đón khách.”


Trong bài viết ngày 3 tháng 4, 2011, báo Người Lao Ðộng nói rằng: “Ðiều khó hiểu là hầu hết các quán cà phê trụy lạc nằm trên đường Minh Phụng, Lạc Long Quân, Hòa Bình hoạt động công khai gần trụ sở công an, UBND quận 11, thậm chí quán cà phê ‘tai tiếng’ Hoàng Lâm nằm sát vách trụ sở công an phường 10, quận 11 nhưng vẫn... an toàn.”
Thứ Năm, 5 tháng 5, 2011 by LTSA

Tôi không muốn nói “sự bất nhân CỦA Hồ Chí Minh”, mà muốn nói “sự bất nhân Hồ Chí Minh”. Nói cách khác là “sự bất nhân mang tên Hồ Chí Minh”.

Hết chuyện xử bắn bà Nguyễn Thị Năm ‘ân nhân cách mạng’ ở Thái Nguyên, chuyện sát hại cụ Đặng Văn Hướng, một bộ trưởng trong chính phủ của ông Hồ, đến chuyện hãm hại các nhân sĩ trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm,… những câu chuyện về sự phản phúc của CSVN dưới triều đại Hồ Chí Minh cứ lần lượt được phơi ra ánh sáng.

Nay đến chuyện hạ sát ông Phạm Quỳnh, học giả danh tiếng và là đại thần triều Nguyễn.

Vô số chuyện về sự bất nhân của con người này cùng thuộc hạ của ông ta thì đã được nhiều người nói đến. Nhưng ở đây tôi muốn nói đến những tư liệu do chính những người ngưỡng mộ ông Hồ cung cấp.

Lần này là bài viết mang tính nghiên cứu Về ngày “Ủy ban Khởi nghĩa Thuận Hóa mời Phạm Quỳnh ra làm việc” để rồi “đi không bao giờ trở lại” của đại tá – tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan, được đăng trên Bauxite ViệtNam (boxitvn.wordpress.com).

Tôi sẽ không trích lại những câu chữ từ bài nói trên, vì quý độc giả có thể dễ dàng tìm đọc nó. Chỉ xin tóm tắt những ý chính của bài viết này. Nó nói lên ba điều. Điều thứ nhất có thể thấy ngay từ tiêu đề bài viết: Việt Minh lừa Phạm Quỳnh, nói là mời đi làm việc rồi ‘khử’ luôn. Điều thứ hai: Phạm Quỳnh là một nhà văn hóa lớn chứ không phải là một viên quan phong kiến bán nước như sách vở của CSVN từng rêu rao nhiều năm. Và điều thứ ba là ông Hồ không tán thành việc ‘khử’ ông Phạm Quỳnh.

Vậy đây là một bài viết để vạch trần tội ác và sự đểu cáng của CSVN, nhưng đồng thời vẫn bênh vực thủ lĩnh của nó. Chẳng biết vô tình hay cố ý, trong phần chú thích ông đại tá tiến sĩ đã để lộ ra một điều: ông Trần Huy Liệu, nhân vật thân cận bậc nhất của ông Hồ trong những thập niên 1940 – 1950, sau 15 năm kể từ ngày hạ sát Phạm Quỳnh, trong hồi ký của mình đã viết: “Ta đã xử lý thích đáng ngay nhiều tên tay sai của Pháp như Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh.” Chẳng lẽ ông Hồ thì tôn trọng những nhân sĩ như Phạm Quỳnh mà vẫn để cho thuộc hạ của mình ‘giết nhầm’ rồi sau đó vẫn nói về những con người đó như nói về những tên tội đồ, những kẻ đáng khinh bỉ như thế sao?

Khi ca ngợi hoặc thanh minh cho ông Hồ, các ‘học giả’ VN vẫn thường vin vào những lời nói của ông ta để chứng minh ông là người yêu nước, nhân ái, nhìn xa trông rộng,… Nào “Bác đã nói thế này”, nào “Bác đã nói thế nọ”… Toàn những lời mới thoạt nghe thấy sao mà tử tế quá! Và đúng là nếu tin vào những lời nói đó thì ông ta quả là người như thế thật. Nhưng hãy nhìn vào những việc mà thuộc hạ của ông ta đã làm, và hãy chú ý đến việc ông ta không bao giờ nghiêm trị những kẻ giết người man rợ dưới trướng ông ta. Trong những trường hợp như vậy, ông ta chỉ nói ‘vuốt đuôi’ những câu để tỏ ra vô can, để khỏi bị người đời nhận ra chân tướng và nguyền rủa. Đó thực sự là một thái độ xảo trá và đê tiện.

Còn nếu quả thật ông ta không muốn làm những điều thất nhân ác đức mà ta thấy cấp dưới của ông ta đã làm thì ông ta là lãnh tụ kiểu gì vậy? Nếu đúng là ông ta không bao giờ ngăn nổi cấp dưới làm điều ác thì liệu ông ta có xứng đáng với lòng tin của cả một dân tộc hay không? Và nếu vậy thì phải gọi ông ta là gì đây, nếu không gọi là KẺ VÔ DỤNG?

TRẦN NAM CHẤN
by LTSA

Ngân hàng Phát triển Á châu (ADB) đã chấp thuận chương trình hỗ trợ 1 tỉ đô la cho một dự án ở Việt Nam nhằm nâng cao khả năng cung cấp nước sạch cho hơn 3 triệu gia đình.

Tân Hoa Xã trích dẫn một thông cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam cho biết như thế hôm thứ Tư.

Theo thông cáo này, dự án cấp quốc gia ở Việt Nam nhắm tới mục tiêu giảm thiểu tình trạng thất thoát nước sạch ở các khu vực đô thị xuống thấp hơn 20% vào năm 2020 và đưa các đô thị của Việt Nam lên ngang tầm với các đô thị khác của châu Á về khả năng cung cấp nước sạch.

Những chỉ tiêu mà dự án này đề ra là khoảng 90% hộ gia đình ở Việt Nam sẽ được cung cấp nước sạch vào năm 2020 và 100% vào năm 2025.

Nguồn: Dow Jones, mof.gov.vn
Thứ Tư, 4 tháng 5, 2011 by LTSA

NGHỆ AN (DT) -Một chú rùa có hình dạng kỳ lạ được phát giác hồi 7 giờ sáng ngày 1 tháng 5 khi đang trôi tấp vào bờ biển Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.


Theo báo dân Trí, chú rùa dài 1.8m, thân ngang rộng 1m, nặng khoảng 4 tạ, trên mai có 8 đường kẻ sọc, ước chừng phải 8 thanh niên lực lượng mới đủ sức nhấc bổng. Một số ngư dân đã phải dùng dây thừng cột ngang thân, kéo chú lên bờ.


Người khám phá ra chú rùa đang nuôi giữ chú và ra giá 10 triệu đồng (khoảng 500 đô la) cho người muốn sở hữu chú rùa lạ. Ông Nguyễn Văn Hương, một ngư dân, nói chưa từng nhìn thấy con rùa có hình dáng kỳ lạ này.


Tài liệu trên mạng, theo báo Dân Trí nói rằng chú rùa đó là giống “luýt” - loại rùa biển lớn nhất thế giới, có thể dài đến 3m khi trưởng thành hoàn toàn.


Giống rùa “luýt” này đã có mặt trên hành tinh hơn 100 triệu năm trước và đang lâm vào tình trạng tuyệt chủng.


Hồi giữa tháng 2 vừa qua có một chú rùa “luýt” cũng giạt vào bờ biển Sumatra, Nam Dương.
Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2011 by LTSA

SAIGON (VB) -- Ở Sài Gòn mấy năm gần đây, dù được trang trọng bày trong cửa hàng phục vụ khách du lịch hay chỉ xếp đống ở vỉa hè ngoài đường phố, hầu hết đồ gốm sứ mỹ nghệ đều là hàng Trung Quốc.
Thế mạnh của hàng Trung Quốc là giá rẻ, hoa văn đẹp nhưng lại mỏng, giòn nên dễ mẻ, sứt và vỡ.
Còn hàng nội với những thương hiệu lừng lẩy một thời như gốm sứ Bát Tràng, Hải Dương, Minh Long, Bình Dương… thì trở nên hiếm kỳ lạ, đặc biệt vắng bóng hẳn là loại sứ gốm đỏ của Vĩnh Long và Biên Hòa (Đồng Nai).
Người yêu mến đồ sứ mỹ nghệ, mỹ thuật của Đồng Nai khó quên là cách đây hơn 20 năm, các nghệ nhân gốm Biên Hòa đã rất thành công trong việc vẽ, khắc tranh dân gian như Mục đồng, Tố Nữ... trên chất liệu gốm, cũng như sản phẩm gốm đất nung (gốm đỏ) không phủ men mang vẻ đẹp tự nhiên, rất được thị trường ưa chuộng.
Một chủ tiệm bình gốm mỹ thuật ở khu Tân Định, quận 1 cho biết là hàng gốm sứ VN vẫn tồn tại nhưng do không cạnh tranh nổi với hàng Trung Quốc nên gần như bỏ qua thị trường trong nước, như gốm Bát Tràng, Minh Long thì tập trung cho xuất khẩu với những mã hàng thật cao cấp và tinh xảo, còn gốm đỏ Vĩnh Long thì đa số chuyển qua làm gạch.
by LTSA

30/4/1975, ngày quốc hận ấy Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của người Việt quốc gia đã bị hạ xuống bởi những người Cộng Sản chiến thắng, từ ngày vắng bóng Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trên quê hương miền Nam Việt Nam thì ngày đó không còn tự do. Trong ngày Quốc Hận 30/04 thứ 36 năm nay, cờ Vàng Ba Sọc Đỏ lại tung bay ở miền Tây do thanh niên sinh viên Cần Thơ treo lên ở thành phố Cần Thơ để nhớ lại những ngày sống trong không khí thanh bình của tự do của đời người.

Từ ngày lá cờ Đỏ Sao Vàng chiến thắng tung bay, là ngày mà người dân bắt đầu cuộc sống trong không khí đầy ngột ngạt, khó thở…thanh niên sinh viên Cần Thơ đâu có muốn hít thở không khí độc tài ngột ngạt ấy. Hôm nay những người Thanh Niên Sinh Viên Cần Thơ phải đi tìm không khí tự do ngày nào.

Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ biểu tượng của tự do bay trên đường phố Cần Thơ sau 36 năm vắng bóng. Chắc đồng bào Cần Thơ tim đập mạnh hồi hộp khi thấy bóng dáng biểu tượng này…đừng ngạc nhiên sẽ có ngày cờ này tung bay trước mọi nhà, trên đường phố, lúc ấy tràn đầy không khí tự do để hít thở.

Ngày này, 36 năm về trước cờ Vàng Ba Sọc Đỏ bị hạ xuống, giờ đây đang sừng sững trở về phất phới trên đường phố thơ mộng Cần Thơ. Thanh niên sinh viên Cần Thơ chỉ mong sao dân tộc Việt Nam được tự do và hạnh phúc. Tự do và hạnh phúc đích thực có được khi chế độ độc tài không còn ngư trị trên quê hương Việt Nam…mộng ước của tuổi trẻ bao giờ cũng ước mơ cho tương lai của dân tộc đi lên, mộng ước của người thanh niên sinh viên đến trường để mở rộng kiến thức, để có tầm nhìn ra xa thế giới văn minh không thể cúi đầu sống trong ao tù của nô lệ độc tài mãi mãi được…

Đêm nay cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tung bay trên đường phố Cần Thơ là một biểu tượng tự do đang đến với đồng bào Cần Thơ, đang đến với người Việt….xin các bạn thanh niên sinh viên, xin mọi mọi người hãy đón nhận nó như một biểu tượng tự do chứ không phải của một kẻ thù như sự tuyên truyền thiếu lương thiện…

Lời của Thanh Niên Sinh Viên Cần Thơ treo Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ

http://thanhniensinhviencantho.tuoitreyeunuoc.com

Dưới đây là Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tự do bay trên thành phố Cần Thơ 30/04/2011
Thứ Bảy, 30 tháng 4, 2011 by LTSA

SAIGON -- Một giBản tin từ trang blog Dân Làm Báo hôm 29/4/2011 có nhan đề “Ai đã tiếp tay “xóa sổ” Giáo Xứ Thanh Bình?” đã kể chuyện một giaó xứ tại quận 2 Sài Gòn đã bị xóa sổ sạch sẽ để tư bản đỏ sẽ xây khu giaỉ trí gọi là “Đảo Kim Cương.”
Nơi naà trước kia là một trại phong, và chính phủ đã dùng bạo lực giải tỏa, yêu cầu mọi người trong trại này phải dọn về trại phong Bến Sắn.
Bản tin ký tên Người Thanh Bình của trang tin này viết trích như sau.
“Nay toàn bộ bà con trong trại phong đã bị cưỡng chế, với thân phận bệnh hoạn, không được ai nâng đỡ kể cả tinh thần lẫn vật chất, công với sự thiếu hiểu biết, nên đã bị cường quyền đền bù với giá rẻ mạt ! ...
Tên thường gọi : Trại phong Thanh Bình, Phường Bình Khánh, quận 2 , Saigòn.
Đất trại phong Thanh Bình trước kia của Hội Thừa Sai Paris (MEP) bán lại cho Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn, diện tích thửa đất này 106 mẫu, nhằm mục đích phục vụ người phong. Giáo Xứ Thanh Bình do Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Bình thành lập do đó trại mang tên Ngài, Ngài giao cho Hội Bạn Người Cùi Việt Nam điều hành trại phong.
Trước năm 1975, người trong trại phong dùng đất cất nhà ở, canh tác làm ruộng kiếm kế sinh nhai. Thành viên trong trại đa số là người giáo dân công giáo. Có nhà nguyện, có giáo dân và có linh mục đến dâng lễ thường xuyên và trại phong Thanh Bình trở thành giáo xứ Thanh Bình.
Trong biến cố 1975, chủ tịch ban điều hành Hội Bạn Người Cùi Việt Nam vượt biên. Thành phố lấy lý do chủ hộ vượt biên nên quản lý trại phong Thanh Bình. Tuy vậy các hoạt động tôn giáo vẫn diễn ra bình thường. Giáo dân trong trại phong vẫn đi lễ, linh mục vẫn thường xuyên đến dâng lễ trong ngôi nhà thờ có từ thời mới thành lập trại.
Nhà Thờ Thanh Bình. Nay chỉ là một bãi gạch bị đập nát! San bằng!
Sau khi thành phố quản lý 106 mẫu đất của trại phong Thanh Bình, thành phố chỉ chừa lại cho dân trong trại phong 7,1 mẫu làm thổ cư và 5,7 mẫu để canh tác. Nằm trong một hòn đảo, bao vây bởi con rạch lớn và ghe thuyền có thể qua lại.
Nay có kế hoạch giải tỏa trại phong và dự trù đưa bệnh nhân về trại phong Bến Sắn. Để biến thành hòn đảo Kim Cương; vui chơi giải trí , với tiêu chuẩn 5 sao. Hiện nay giá 1m2 đất tại đây khoảng 70.000.000 VNĐ ( bảy mươi triệu ) Trong khi đền bù cho dân với giá ban ơn: 1.200.000 VNĐ!
Đài Đức Mẹ. Bị đập nát ! Chỉ còn lại chân đài ! Ai đem Đức Mẹ đi nhốt ở mô ?
Thực chất, đất này vẫn là sở hữu của Tòa Tổng Giám Mục Saigon. Hội Bạn Người Cùi Việt Nam chỉ là hội đại diệnTòa Giám Mục quản lý trại phong chứ không phải là sở hữu chủ. Nhân đây cũng xin nói thêm: Hội Bạn Người Cùi Việt Nam không phải là của chính quyền trước năm 1975, mà chỉ là một đòan thể công giáo tiến hành được ủy quyền điều hành trại phong nhân danh Tòa Tổng Giám Mục.
Vì lẽ sang nhượng cho Tòa Tổng Giám Mục với mục đích phục vụ người phong nên Hội Thừa Sai Paris bán lại 106 mẫu đất này cho Tòa Tổng Giám Mục Saigon với giá chỉ 1 đồng bạc.
Nay toàn bộ bà con trong trại phong đã bị cưỡng chế, với thân phận bệnh hoạn, không được ai nâng đỡ kể cả tinh thần lẫn vật chất, công với sự thiếu hiểu biết, nên đã bị cường quyền đền bù với giá rẻ mạt!
Bà Nguyễn Thị Quế, 83 tuổi, vào trại năm 1968: “Chúng tôi sẽ sống ra sao nếu không được bồi thường về nhà, đất khi bị thu hồi?”
Ngay cả ngôi nhà thờ, cũng bị ai đó phá dỡ, kể cả Đài Đức Mẹ cũng bị đập phá ! Nay chỉ còn trơ trọi một bãi đất trống, chân đài Đức Mẹ bị xô đổ, chỉ còn lại một khúc bê tông! Vào khoảng cuối tháng 3/2011.”(hết trích) Độc giả có thể đọc thêm chi tiết ở trang: danlambaovn.blogspot.com/

aó xứ đã bị xóa sổ sạch
by LTSA

Có lẽ một trong những mốc thời gian – đúng hơn là mốc lịch sử - mãi đậm nét trong tâm trí nhiều người dân Việt là Biến cố năm 1975

Trĩu nặng nỗi âu lo

Ngày 30-04-1975 khi Saigòn thất thủ về tay CS Hà Nội, khi các chiến xa và xe tăng của quân “Giải Phóng” húc đổ những cánh cổng sắt nặng nề của Dinh Độc Lập, khi người “thua trận” ở Miền Nam trĩu nặng nỗi âu lo, tủi hận, oán hờn, khi cảnh “bể dâu” ngập tràn Miền Nam Tự do gây nên cảnh xót xa niềm hưng phế.

Nhân còn vài ngày nữa là đến thời điểm lịch sử này, Blog Việt Thức phổ biến “Bài thơ cho Tháng Tư Đen” của nhà thơ Ngô Minh Hằng, mở đầu rằng:

Năm tháng theo nhau rụng xuống đời
Tháng Tư lại đến, biển sầu khơi !
Tháng Tư này nữa là bao nhỉ
Mà vẫn xa quê, vẫn phận hời ???

Tóc đã phai xanh, tuổi đã chiều
Vì sầu tổ quốc, vẫn đăm chiêu
Phần thương dân tộc trong hờn tủi
Phần xót quê hương đỏ giáo điều …

Rồi nỗi “Buồn Tháng Tư” của tác giả Trúc Xanh trên blog Dân chủ-Nhân quyền cho VN cũng chất chứa “niềm đau muôn thuở”:

Tháng Tư nào nắng trưa hè vụt tắt.
Tháng Tư nào dài dặc một đêm đen.
Tháng Tư nào nghe máu ứa trong tim.
Tháng Tư nào thành niềm đau muôn thuở.

Tháng Ba gãy súng


Sài Gòn ngày 30-04-1975. AFP PHOTO.


Qua bài tựa đề “Tháng Ba gãy súng. Tháng Tư tan hàng” đăng trên blog Việt Thức, tác giả Huy Phươngkhông rõ “liệu chúng ta còn nhớ gì không” khi Tháng Ba đã qua và tháng Tư đã đến?

Có còn nhớ “Những hàng dương trên bờ biển Thuận An và Tư Hiền đã xanh mướt qua mấy mùa mưa gió, rừng núi cao nguyên trên đường lộ 7B đã đâm lộc nẩy chồi bao bận”? và “Những ai đã trải qua thời gian tù đày khắc nghiệt còn nhớ gì những ngày lội suối băng rừng, thân còm, bụng lép.

Những ai đã đến được bến bờ qua những ngày lênh đênh trên biển cả, còn nhớ gì những nỗi hãi hùng, đau đớn tủi nhục mà tiếng kêu gào oan khiên không đến được trời xanh”? Và rồi ngày 30 Tháng Tư lại đến, tác giả e rằng “cuộc chiến cũng như người chết đã bị lãng quên”!

Nhưng tác giả vẫn tin rằng những hình ảnh “ Tháng Ba Gãy Súng”, “Tháng Tư tan hàng” trong hỗn loạn, chết chóc đau thương và tủi nhục ấy khó mà nhạt nhòa trong ký ức của những người thua cuộc. Tác giả Huy Phương hồi tưởng thảm cảnh đã xảy ra:

“Tháng Ba Gãy Súng” làm cho chúng ta có một chút gì nhớ đến Cao Xuân Huy, người lính Thủy Quân Lục Chiến đã vứt súng trên biển Thuận An, trong đoàn quân lui binh hỗn loạn, không được yểm trợ phi pháo, trước mặt là biển cả muôn trùng, sau lưng là giặc đuổi cận kề, mà không hề có tàu thuyền nào vào ghé bến.

Những người lính dũng cảm mới hôm qua đây, phút chốc đã trở thành những mục tiêu cho những du kích bắn sẻ và những tên tiền sát viên địch điều chỉnh pháo binh, điều mà một người lính TQLC khác là Tô Văn Cấp đã đau đớn đặt tên cho chốn lui quân, nơi tuyệt lộ này là “pháp trường cát”, nơi chiến trường phơi thây bao chiến sĩ của chúng ta.

Tháng Ba gãy súng làm cho chúng ta nhớ lại đoạn đường xương máu kinh hoàng từ Phú Bổn về duyên hải trong những ngày bỏ cao nguyên, làm tan rã một quân đoàn. Một cuộc rút quân không kế hoạch, không có cấp chỉ huy, không có quân bạn yểm trợ, đem con bỏ chợ, hỗn loạn và chết chóc khốn cùng.

Người lính lâu nay ở với xóm làng, rừng núi, khuya sớm đùm bọc nhau, ngày nay một người lính lên xe ra đi, năm người dân bồng bế dắt díu nhau chạy theo. Nỗi đau của người lính hôm nay là không bảo vệ được người dân, vì vận nước, ngay người lính có súng mà phải vứt súng, có đất mà phải bỏ đất.

Tháng Tư tan hàng, người lính bị trói tay, người lính bị phản bội, người lính ở lại sau cùng để cho những chuyến tàu chở người ra đi, để cho những chuyến phi cơ rời phi đạo đi về một chân trời hy vọng tự do, bỏ lại quê hương tù đày. Bao nhiêu thảm cảnh đã xảy ra cho miền Nam sau ngày “tan hàng” hay “mất nước”, danh từ sử dụng tùy theo sự suy nghĩ, nỗi mất mát và tâm trạng của mỗi người.”

Khúc ruột ngàn dặm


Thuyền nhân Việt Nam vừa đến được Malaysia

vào những năm cuối thập niên 70. AFP PHOTO


Qua bài “Hoài niệm 30-4: Tìm mãi yêu thương” được phổ biến trên nhiều trang mạng nhật ký, thầy Nguyễn Thượng Long từ Hà Đông “nghĩ rằng đã là người Việt Nam, dù là người chiến thắng hay là kẻ chiến bại, dù ở đâu trên mặt đất này thì ai ai vào ngày tháng đó cũng thở phào và không ít thì nhiều đều có chung cảm hứng yêu thương nhau như vậy.

Nhưng những gì đã diễn ra sau mốc lịch sử đó lại không hoàn toàn như vậy…”. Thầy Nguyễn Thượng Long cho biết:

“Thế hệ chúng tôi…sinh ra và lớn lên cùng với sự ra đời của nhà nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Độc lập Tự do Hạnh phúc”.

Tuổi ấu thơ chúng tôi trôi đi cùng với những cuồng nộ của một thế thái nhân tình rất xa lạ với những phẩm chất truyền thống của một dân tộc bản chất là hiền hòa.

Kí ức đầu đời của thế hệ chúng tôi chưa thể nhạt nhòa về những gì đã đến sau những phát triển quái gở của chủ thuyết “Đấu tranh giai cấp”, về con đường chuyên chính vô sản, về bạo lực cách mạng mà những người cộng sản đã du nhập vào đất nước chúng tôi. Vẫn còn nguyên đó những câu hỏi đầy ám ảnh:

Tại sao lại phải “Đào tận gốc, trốc tận rễ” đám Trí – Phú – Địa – Hào… rồi bây giờ lại gọi đó mới chính là nguyên khí của đất nước!

Tại sao lại phải cải tạo thực ra là đánh sập công thương nghiệp tư bản tư doanh tới 2 lần (Miền Bắc sau năm 1954 – Miền Nam sau 30/4/1975). Sau 1986 đến nay lại phải làm lại gần như từ đầu.

Tại sao sau ngày 30/4/1975, ngày con Lạc ở miền Bắc chiến thắng cháu Hồng ở miền Nam, người chiến thắng không thực lòng hòa hợp, hòa giải mà lại tạo ra những thương tổn không đáng có trong lòng những kẻ bại trận.

Những ngày tháng tù đầy, cải tạo và phân biệt đối xử với quân nhân, viên chức chính quyền cũ và vợ con gia đình họ đến nay vẫn là những kí ức đầy hãi hùng. Vì những hãi hùng này mà ngày đó hàng triệu người con đất Việt phải liều thân bỏ xứ ra đi…”

Thưa quý vị, có lẽ 1 trong những vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975 là lời kêu gọi của giới cầm quyền VN dành cho “khúc ruột ngàn dặm” hãy cùng xoá bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải dân tộc.

Trước khi lâm nạn, Blogger Phan Kiến Quốc – tức GS Phạm Minh Hoàng – có nhận xét về những bài kêu gọi sự hòa hợp, xoá bỏ hận thù qua bài viết của ông tựa đề “Xoá bỏ hận thù: Tại sao không ?”. Blogger Phan Kiến Quốc nhận xét:

“Ngay trong lúc đi tìm sự hòa hợp, chúng ta vẫn chỉ đi tìm từ phía “kẻ thắng”, nên khó mà tìm ra sự đồng thuận.
Blogger Phan Kiến Quốc

 “Chủ đề này đã nhiều lần được đưa lên báo, đã có nhiều cuộc hội thảo, đã có nhiều phát biểu nhưng hình như nó vẫn còn nguyên vẹn, nếu không báo chí và truyền thông chẳng có hàng loạt bài “bức xúc” như vậy.

Nhưng sau khi đọc những bài viết này thì những trăn trở trong tôi chẳng những không bớt mà còn nổi sóng hơn. Cái thắc mắc trước tiên là các bài viết hầu như đều bắt đầu bằng điệp ngữ “Không có kẻ thắng người thua nhưng cả dân tộc Việt Nam thắng”, nhưng tất cả các bài viết đều xuất phát từ “kẻ thắng”, họa hoằn lắm thì cũng thấy ông Nguyễn Cao Kỳ, Tướng Nguyễn Hữu Có, nhưng những nhân vật này từ lâu cũng chẳng còn ở phía “kẻ thua”.

Điều đó có nghĩa rằng ngay trong lúc đi tìm sự hòa hợp, chúng ta vẫn chỉ đi tìm từ phía “kẻ thắng”, nên khó mà tìm ra sự đồng thuận.”

Qua bài tựa đề “36 năm đất nước thống nhất, một tội danh bị đánh tráo, nỗi buồn riêng và chung”, blogger Lê Diễn Đức lưu ý rằng:

“Dưới bàn tay cai trị của Đảng cộng sản Việt Nam, rõ ràng các khái niệm đã được đánh tráo trơ trẽn và nhanh chóng”, từ “phản động” thành “khúc ruột ngàn dặm”, rồi “phù phép biến hoá tội danh” cho tới hãy “quên quá khứ, hướng tới tương lai”.

Blogger Lê Diễn Đức nhận thấy:

“Giờ đây, lực lượng đông đảo những người “trốn ở lại nước ngoài” mỗi năm gửi về nước nhiều tỷ đôla, mang tiền về nước đầu tư, Nhà nước ra Nghị quyết 36 gọi họ là bộ phận không thể tách rời khỏi cộng đồng dân tộc, là “khúc ruột ngàn dặm”, có thể xênh xang “áo gấm về làng”:

Ngày đi, Đảng gọi Việt gian
Ngày về thì Đảng chuyển sang Việt kiều
Chưa đi: phản động trăm chiều
Đi rồi thành khúc ruột yêu ngàn trùng!”

Thanh Quang cảm ơn quý vị vừa theo dõi Mục Điểm Blog hôm nay, và mong gặp lại tất cả quý vị cũng vào tuần tới.

Thanh Quang, phóng viên RFA
by LTSA

QUỶ ĐỎ


Nước Việt chìm trong nỗi khổ đau ,
Côn đồ thống trị đảng ngu lâu .
Dân nghèo xác nhục lo từng bữa ,
Trí thức hồn kinh chịu cúi đầu .
Bán nước ngu dân thời cộng sản ,
Theo đuôi liếm đít bọn Nga ,Tàu .
Rồng Tiên đảng trị thành trâu ,ngữa,
Quỷ đỏ làm sao có mạnh giàu ./.




DIỄN HỀ

Sắp khoai vô ấm trước trong nồi ,
Đảng cử dân bầu đã biết ai ?
Mặt trận hiệp thương tay đảng cả ,
Nhân dân phiếu bỏ diễn hề thôi .
Thớt tanh nhặng bọ tranh nhau bậu ,
Nghị gật đầu tôm chỉ đến ngồi .
Bán nước theo Tàu quân đảng cướp ,
Cầu vinh chịu nhục phận làm tôi ./.





THĂNG LONG
Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2011 by LTSA

Sau ngày Cộng sản chiếm miền Nam 30/4/1975, khẩu hiệu “Chủ Nghĩa Mác Lê Bách Chiến Bách Thắng” đã được giăng khắp hang cùng ngõ hẻm. Khẩu hiệu trên cũng được các cán bộ cộng sản từ Bắc vào lên lớp giảng dạy cho dân miền Nam . Thực ra khẩu hiệu chỉ nói lên một điều duy nhất: chủ nghĩa Mác Lê do một thiểu số cộng sản cầm quyền lần này đã thắng Dân Tộc Việt Nam . Chúng ta đều biết chủ nghĩa Mác Lê là một chủ nghĩa quốc tế. Tại Việt Nam , chủ nghĩa này kết hợp với tư tưởng và hành động bạo chúa của Stalin và Mao trạch Đông. Chủ nghĩa Mác Lê Stalin và Mao lấy đấu tranh giai cấp, lấy bạo lực cách mạng để cướp và nắm giữ chính quyền.

Giở lại trang sử Việt Nam, những năm đầu 1920, khi Hồ chí Minh vừa gia nhập Quốc Tế Cộng Sản, Hồ đã gây ra nạn phân hóa trong hàng ngũ những ngừơi đấu tranh giành độc lập dân tộc tại Pháp. Những người Quốc Gia đã nhận ra ngay Cộng sản là một thế lực Quốc Tế. Nếu theo chủ nghĩa này khi đánh đuổi được người Pháp Việt Nam sẽ lại lại lọt vào vòng thuộc địa của đế quốc Liên Sô. Quốc Tế Cộng Sản còn chủ trương tiêu diệt giai cấp, tiêu diệt những thành phần quốc gia dân tộc. Chủ trương này đi ngược với truyền thống: dân tộc con trăm trứng - anh chị em một nhà. Bởi vậy các chiến sỹ quốc gia đã công khai bất đồng chính kiến với Hồ chí Minh và một thiểu số người chạy theo Quốc Tế Cộng Sản.

Ngày nay nhiều nguồn sử liệu cho thấy Hồ chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận các khỏan tài chính to lớn từ Liên Sô để thực hiện “Cách Mạng Cộng Sản” tại Đông Dương. Thậm chí có những bức thơ Hồ chí Minh bèo nheo với Quốc Tế Cộng Sản không được Quốc Tế Cộng sản trả tiền tương xứng về công lao “khuyển mã” của mình. Hồ lại còn bán Cụ Phan Bội Châu cho Pháp vừa có tiền vừa mượn tay Pháp tiêu diệt được một lãnh đạo Phong trào chống Pháp không theo Cộng sản.

Khi Chủ Nghĩa Mác Lê bắt đầu lan tới Việt Nam những năm 1930-40, đảng Cộng sản thay vì đấu tranh giành độc lập cho đất nước, tự do cho dân tộc, lại lo đấu tranh giai cấp. Đảng Cộng sản lấy chủ trương "trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ", lấy bạo lực cách mạng làm phương tiện tiêu diệt mọi thành phần không theo cộng sản. Nạn nhân của Sô Viết Nghệ Tĩnh, của Nam Kỳ Khởi Nghĩa không phải là người Pháp mà lại chính là những người Việt Nam không theo Cộng sản và những người nông dân bị Cộng sản lường gạt mang thân mình lót đường xây dựng đế quốc Liên Sô .

Ngày 9/3/1945, khi Nhật đảo chánh Pháp và trao quyền cho Hòang Đế Bảo Đại. Chính phủ Trần trọng Kim được thành lập, vừa lo nạn đói, lo cải cách xã hội và giáo dục, lo soạn thảo hiến pháp, lo xây dựng một chính quyền dân chủ. Việt Minh ngược lại xây dựng bạo lực để nổi dậy cướp chính quyền.

Sau đó đến lượt người Nhật đầu hàng Đồng Minh. Ngày 19/8/1945, Việt Minh cướp được chính quyền, Hòang Đế Bảo Đại phải thóai vị. Khi đã củng cố được quyền hành đảng Cộng sản quay súng tiêu diệt mọi tổ chức hay cá nhân không theo cộng sản. Đức Thầy Hùynh Phú Sổ, Lý Đông A, Trương Tử Anh, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu và hằng trăm lãnh đạo các Tổ Chức Quốc Gia khác đã bị Cộng sản tiêu diệt. Hàng chục ngàn các chiến sỹ đấu tranh cho độc lập và tự do dân tộc thuộc Cao Đài, Hòa Hảo , Việt Quốc và thuộc hàng trăm các Tổ Chức Chính Trị Quốc Gia khác đã bị đảng Cộng sản xuống tay tiêu diệt. Nhân lực và tiềm lực của Dân Tộc đã bị đảng Cộng sản bán rẻ cho Tổ Quốc Liên Sô trong Thế Giới Đại Đồng.

Tất cả Chương Trình quan trọng của đảng Cộng sản đều đã được Báo cáo cho Quốc Tế Cộng sản. Gần đây hai bức thư của Hồ Chí Minh gởi Stalin, xin được xem xét và cấp chỉ dẫn cho Chương trình Cải cách Ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam đã được phát hiện trong đống hồ sơ của Cục Lưu trữ Quốc gia Nga. Một ngày không xa chúng ta sẽ có được những tài liệu đảng Cộng sản buôn dân bán nước để viết lại một trang sử bi hùng dân tộc.

Người Pháp quay lại Đông Dương và từng bước trao trả độc lập cho cả 3 nước Việt Miên Lào . Nhưng người Pháp cương quyết không trao quyền lực cho Hồ chí Minh vì biết rõ ông ta là một cán bộ Quốc Tế Cộng sản, đảng Cộng sản và Việt Minh chỉ là một tổ chức ngọai vi của đảng Cộng sản Quốc Tế. Người Pháp từng bước chính thức trao trả độc lập cho Cựu hoàng Bảo Đại để thành lập chính quyền Quốc Gia. Những người Quốc Gia với tâm huyết giành độc lập và thống nhất đất nước đã liên kết dưới sự lãnh đạo của Cựu Hòang . Trong khi đó vì muốn đảng Cộng sản nắm được độc quyền chính trị, Hồ Chí Minh cương quyết tiếp tục chiến tranh tiêu diệt chính quyền, quân đội và mọi cá nhân, tổ chức Quốc gia.


Năm 1949, đảng Cộng sản Trung Hoa chiếm được lục địa Trung Hoa, khi ấy Mao Trạch Đông nói rõ ý đồ dùng Đông Dương làm bàn đạp và đảng Cộng sản Việt Nam làm tay sai để bành trướng phong trào Cộng sản xuống các nước Đông Nam Á. Sẵn mang bản chất tay sai từ thể xác lẫn tư tưởng, Hồ và đảng Cộng sản Việt Nam đã sang Tàu rồi sang Nga để chính thức nhận lãnh trách nhiệm Quốc Tế tại Đông Dương. Chính yếu tố này đã làm cho cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945-1954) mở rộng thêm và càng ngày càng khốc liệt hơn.

Chiến tranh Việt Nam còn được gọi là chiến tranh Đông Dương, vì ngòai chiến trường chính là Việt Nam, còn hai chiến trường phụ là Lào và Cam Bốt. Đảng Cộng sản Việt Nam đã được Quốc Tế Cộng Sản phân công nhiệm vụ trên cả ba chiến trường.

Nếu Đông Dương không có đảng Cộng sản Việt Nam thì Đông Dương đã không xảy ra chiến tranh. Thật vậy sau thế chiến thứ hai, tất cả các nước trong khu vực Đông Nam Á có hoàn cảnh địa lý và chính trị tương tự Việt Nam đều đã giành được độc lập, được tự do và đều không bị lâm vào chiến tranh như tại Đông Dương. Người Pháp cũng đã từng bước chính thức trao trả độc lập cho Cựu hoàng Bảo Đại để thành lập chính quyền Quốc Gia.


Khi chiến tranh Đông Dương đến hồi khốc liệt nhất, đảng Cộng sản đã theo lệnh của Liên Sô và Trung Cộng chia đôi đất nước Việt Nam . Thay vì lo cho đời sống của người dân miền Bắc, đảng Cộng sản lại tiếp tục đưa quân đội và khí giới vào miền Nam . Nói một cách khác nếu không có đảng Cộng sản Việt Nam thì cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất đã tránh được, và cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai (1954-1975) dĩ nhiên đã chẳng xảy ra.

Sau Hiệp Định Đình Chiến Geneve, tiếp tục vai trò bành trướng được Quốc Tế Cộng Sản giao phó, quân đội và cán bộ cộng sản với trang bị vũ khí của Liên Sô, Trung cộng và các nước Đông Âu, đã ào ạt xâm lấn ba quốc gia Đông Dương. Phản ứng lại Hoa Kỳ và các Quốc Gia Đồng Minh gởi quân sang nhưng chỉ nhằm bảo vệ các quốc gia này không để lọt vào tay quân cộng sản. Phía Cộng sản tăng cường chiến tranh. Cuộc chiến càng ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Phía Cộng sản quyết tâm nhuộm đỏ Đông Dương, trong khi đó Hoa Kỳ lại vẫn chạy theo chiến lựơc ven bờ chỉ lo giữ Đông Dương thay vì tấn công Khối Cộng Sản.

Để duy trì chiến lược bảo vệ Đông Dương Hoa Kỳ đã phải trả một giá rất đắt cả về cả nhân lực lẫn tài lực. Trên các Đài truyền hình Hoa Kỳ tin tức chiến trường tạo ra hình ảnh Hoa Kỳ đã thất bại trong cuộc chiến tại Việt Nam . Mỗi tuần hàng ngàn binh sỹ Hoa Kỳ tử trận hay bị thương, cuộc chiến như đang xẩy ra tại chính Hoa Kỳ. Phong trào phản chiến nổi lên gây ảnh hưởng đến chính giới và chính sách Hoa Kỳ.

Mặt khác Hoa Kỳ khi ấy đã bắt tay được với Trung Hoa Cộng Sản. Vì thế họ cũng thay đổi chiến lược và chính sách tại Đông Dương. Hiệp Định Ba Lê được ký kết. Hiệp Định này lại ngầm chấp nhận sự hiện diện quân đội Bắc Việt tại Đông Dương. Hoa Kỳ rút quân đội trong khi đó quân đội Bắc Việt lại gia tăng xâm nhập người và vũ khí vào Nam . Quốc Hội Hoa Kỳ lại quyết định cắt giảm Quân viện cho Việt Nam Cộng Hòa. Thiếu quân trang, quân cụ Việt Nam Cộng Hòa đã lọt vào tay quân cộng sản ngày 30/4/1975.

Trong gần 3 thập niên từ 1949 tới 1975, dân tộc Việt đã kiên cường chống lại Khối Cộng sản Quốc Tế do Nga Tàu lãnh đạo. Bao chiến sỹ Quốc Gia , chiến sỹ quân đội Việt Nam Cộng Hòa và người dân miền Nam đã anh dũng chiến đấu bảo vệ miền đất cha ông để lại và xây dựng một miền Nam tự do. Ở cuối cuộc chiến Trung cộng lộ rõ bản chất xâm lược mang quân xâm chiếm Hòang Sa. Ngặt nỗi quần đảo này đã đựơc Hồ và đảng Cộng sản Việt Nam chuyển giao cho Trung cộng từ những năm 1958.

Ba mươi sáu năm qua, thiểu số cầm quyền cộng sản đã thiết lập một thể chế tòan trị tại Việt Nam . Thiểu số cầm quyền cộng sản lại xuất thân từ những kẻ chuyên lấy đấu tranh giai cấp, lấy bạo lực cách mạng làm phương tiện tiến thân. Như Hồ chí Minh họ đã hiến dâng thể xác và tinh thần cho tư tưởng ngọai lai Mác Lê Stalin Mao , vì thế họ luôn sẵn sàng tình nguyện làm tay sai cho ngọai bang Nga Tàu . Ngay sau 1975, Đảng Cộng sản lại đưa Việt Nam vào hai cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam (1975-1989) và biên giới phía Bắc (1979-1989), hai cuộc chiến này lại do những mâu thuẫn nội bộ giữa các đảng Cộng sản Liên Sô, Trung Quốc, Việt Nam và Cam Bốt tạo ra. Đảng Cộng sản Việt Nam khi ấy luôn mồm hãnh diện làm “nhiệm vụ quốc tế” cho Liên Sô để chống lại “chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc”.

Chiến tranh từ 1945 đến 1989 đã làm cho hàng triệu binh lính và thường dân vô tội Việt Nam bị chết và bị thương tổn cả tinh thần lẫn thể xác. Chiến tranh cũng làm phân hóa dân tộc chỉ mang lợi cho đảng Cộng sản tiếp tục cầm quyền và Trung cộng từng bước thực hiện chiến lược xâm chiếm Việt Nam . Trung Cộng đã đánh chiếm Hòang Sa, Trường sa và nhiều phần lãnh thổ Việt Nam. Thế mà đảng cộng sản lại bắt bớ, đàn áp mọi tiếng nói yêu nước đòi bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Gần đây chúng ta lại biết thêm Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam đã bán sống Tây Nguyên cho Trung Cộng khai thác bauxite, bán rừng để Trung cộng tòan quyền khai thác hay xây dựng căn cứ để xâm thực Việt Nam.

Sau chiến tranh đảng Cộng sản đưa tòan dân tộc Việt vào nhà tù cộng sản, mọi tiếng nói bất đồng đều bị đảng Cộng sản xuống tay đàn áp dã man. Mất tự do, mất dần độc lập quốc gia, ngày 30/4/1975, miền Nam lọt vào tay quân cộng sản, nhưng cũng là ngày khởi đầu cho một cuộc đấu tranh mới: đấu tranh để giành lại tự do, dân chủ và vẹn tòan lãnh thổ.

Ba mươi sáu năm qua, cứ đến 30/4 hằng ngàn bà con khắp các tiểu bang tại Úc châu lại hướng về Canberra biểu tình trước tòa Đại sứ Việt cộng. Những người biểu tình nhắc nhở nhau Úc châu là vùng cấm Việt cộng và phải góp một bàn tay mang dân chủ tự do đến cho Việt Nam .

Ba mươi sáu năm qua, Úc Châu luôn luôn nêu cao tinh thần quyết tâm giải thể cộng sản mang tự do dân chủ đến cho Việt Nam . 30/4 năm nay Cộng Đồng Ngừơi Việt Tự Do tại Úc châu sẽ vận động đồng bào khắp nơi trên Thế giới đồng ký tên Thỉnh Nguyện Tự Do Dân Chủ cho Việt Nam . Thỉnh nguyện thơ này sẽ được đồng bào tất cả các tiểu bang ký tên, cũng như sẽ đưa lên trên mạng để đồng bào khắp nơi trên thế giới cùng ký.

Đặc biệt vào ngày 12/6/2011 sắp tới Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Victoria sẽ tổ chức một cuộc biểu tình tuần hành với tiêu đề là “ Vinh Danh Cờ Vàng - Giải Thể Cộng Sản Việt Nam ”. Đòan biểu tình sẽ phát xuất từ Federation Square, tuần hành vào giữa trung tâm thành phố Melbourne để tiến về Quốc Hội Victoria trao Thỉnh Nguyện Thư. Cuộc biểu tình nhằm nói lên nguyện vọng của người Việt tại Victoria luôn luôn ước mong và đấu tranh để tự do dân chủ sớm đến với dân tộc Việt Nam. Mong Cách Mạng Hoa Nhài sớm đến Việt Nam . Các Tiểu Bang khác tại Úc châu cũng đang thảo luận với các hội đòan để hoặc sẽ tổ chức biểu tình cùng ngày hoặc sẽ tổ chức trao Thỉnh Nguyện Thư đến chính giới địa phương.

Cộng đồng Úc châu cũng như Cộng đồng Người Việt Tự Do Hải Ngọai luôn hướng về quê cha đất tổ để Việt Nam sớm có Tự Do. 30/4 khi ấy sẽ chỉ còn là một ngày trong lịch sử. Lịch sử một Dân Tộc đã kiên cường chống lại chủ nghĩa Mác Lê, Quốc Tế Cộng Sản và thiểu số tay sai “cõng rắn cắn gà nhà” cộng sản Việt Nam.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

27/4/2011
by LTSA

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 kết thúc cuộc chiến tranh hiểm hóc tại Việtnam. Trên danh nghĩa là cuộc ‘chiến tranh Quốc Cộng’ của Việtnam, do Bắc Việt Cộng Sản thực hiện cuộc xâm lăng Miền Nam, qua công cụ của họ là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Nhưng thực tế nó là một cuộc ‘chiến tranh thế giới thu nhỏ’, do Hoakỳ làm chủ soái về phiá Thế Giới Tự Do và Thế Giới Cộng Sản đứng ẩn mặt sau lưng Cộng Sản Bắc Việt. Chính vì vậy mà dư luận quốc tế và kể cả dư luận của người Mỹ cũng chỉ nhìn thấy Hoakỳ là thế lực quốc tế hiện diện và điều khiển toàn diện, quyết định tối hậu của vận mệnh cuộc chiến tranh quái ác tại Việtnam. Nên 30/04/1975 là ngày Việtnam mất tự do đã thành một vết thương hằn sâu trong tâm thức Hoakỳ, mỗi khi chính quyền Mỹ tham dự vào cuộc chiến nào trên thế giới thì dư luận Mỹ, và người Mỹ, ngay lập tức liền nghĩ tới sự sa lầy của Mỹ tại cuộc chiến Việtnam. Thế giới kết tội cho Mỹ là ‘bỏ rơi Đồng Minh’ của mình, từ đó nghi ngờ thiện chí của Mỹ. Tuy thực tế lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng, chính do cuộc chiến Việtnam, và do Mỹ để cho cộng sản nuốt trọn Việtnam đã là một yếu tố quan trọng khiến Liênxô sụp đổ, mà Mỹ không phải tốn một viên đạn nào ở đó. Thế giới thoát khỏi cảnh ‘chiến tranh lạnh’, buớc sang tiến trình kinh tế thị trường ‘toàn cầu hóa’ và ‘dân chủ hóa toàn cầu.

Hoakỳ, tuy với danh nghĩa là ‘bảo vệ tự do cho Miền Nam Việt Nam’. Nhưng thực tế không phải là để tiêu diệt Việtcộng cho Miền Nam, mà để Mỹ Hoá cuộc chiến tranh Việtnam, nhằm đẩy Quốc Tế Cộng Sản vào thế ‘Huynh Đệ Tương Tàn’. Chính vì biết rõ Liênxô, Trungcộng đang lâm vào thế không đội trời chung. Sau khi Stalin chết, tại đại hội khóa 20 của cộng đảng Liênxô, Khurushchev đọc Báo Cáo Chính Trị hạ bệ thần tượng Stalin, Mao Trạch Đông, quyết liệt chống ‘phong trào xét lại’ này, với mưu đồ không che dấu là lên ngôi lãnh tụ của toàn thế giới cộng sản, thay chỗ của Stalin. Nga, Tầu công khai chống nhau từ đó. Hồ Chí Minh đã ma mãnh, cho Lê Duẩn đi với Liênxô, đích thân Hồ đi với Trungcộng để vừa kéo 2 đàn anh đang trong thế thù địch sinh tử với nhau vào chi viện cho cuộc xâm lăng của Cộng Sản Việt Nam, vừa không phải lựa chọn đứng về phía Nga hay Tàu. Như vậy trên bản chất của vấn đề là cả 3 phe trong Quốc Tế Cộng Sản: Liênxô, Trungcộng và Việtcộng sẽ phải tìm thế cách khai thác cuộc xâm lăng đó sao có lợi nhất cho mình. Phía Thế Giới Tự Do, Mỹ loại những trở ngại cho công cuộc ‘Mỹ hoá’ chiến tranh Việtnam, dù trở ngại đó là Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà, Ngô Đình Diệm, hay là ngay Tổng Thống Hợp Chúng Quốc Hoakỳ, John F. Kennedy đều bị hy sinh mạng sống cho việc tiến hành cuộc chiến quái gở này. Trong cuộc chiến, các vị tư lệnh chiến trường của Mỹ, không được quyền đánh thắng hay quyền thua. Có nghĩa là phải để cho cuộc chiến kéo dài cho tới khi đạt được mục tiêu chính trị. Chính vì vậy đã làm cho cuộc chiến diễn biến trong tình trạng ‘sa lầy’ làm cho trên 58 ngàn binh sĩ Mỹ tử trận, hàng mấy trăm ngàn lính chiến Việtnam Cộng Hoà bị hy sinh, hàng triệu lính Việtcộng bỏ mình, và nhiều triệu dân chúng Việtnam thương vong, với bao nhiêu của cải đổ vào cuộc chiến. Khiến cho phong trào phản chiến tại Mỹ bùng lên mãnh liệt, buộc các chính khách dù là ‘diều hâu’ cách mấy cũng nghĩ tới giải pháp hòa bình.

Sau cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 của Việtcộng vào các đô thị Miền Nam, để thỏa mãn mơ ước ‘giải phóng Miền Nam’ của Hồ Chí Minh bị thảm bại, trước sự phản công ngoạn mục của Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà. Lực lượng du kích, cán bộ nằm vùng của Giải Phóng Miền Nam hầu như bị tiêu vong. Quân đội Bắc Việt vào thay thế. Cộngsản Bắc Việt nắm trọn quyền chủ động tại chiến trường Miền Nam và trong các cuộc thương thuyết. Hồ Chí Minh chết tức tưởi, quyền hành hoàn toàn lọt vào tay Lê Duẩn thân Liênxô. Tổng thống Dân Chủ Mỹ, Lyndon B. Johnson xem như đã đưa cuộc chiến cán mức cần thiết, ông không ra tranh cử. Tổng thống Cộng Hòa Mỹ, Richard Nixon đắc cử, tiến hành giải pháp hòa bình. Hội nghị Paris chuyển động. Năm 1971, Mỹ đẩy Trung Hoa Quốc Gia – Đàiloan ra khỏi Liên Hiệp Quốc, đưa Trungcộng vào thay thế, sau khi Mao Trạch Đông đã thực hiện cuộc ‘Cách Mạng Văn Hóa’, kể từ ngày 05/08/1966, loại hết các đối thủ chính trị, để nắm toàn quyền tại Trungcộng nhằm bắt tay với Mỹ. Ngày 21/02/1972, Nixon gặp Mao tại Bắckinh, ngày 28/02/1972 Nixon và Chu Ân Lai ký Thông Cáo Chung Thượng Hải. Mỹ, Tầu liên minh với nhau để chống Liênxô. Cuộc chiến tai quái Việtnam xong nhiệm vụ.

Hiệp Định Paris chấm dứt chiến tranh Việtnam có hiệu lực từ 8 giờ sáng ngày 28/01/1973, để cho Mỹ rút quân, còn quân Bắc Việt không bị rút về Bắc. Do vậy chiến tranh giữa Cộngsản và Quốcgia vẫn tiếp diễn tại Miền Nam. Ngày 19/01/1974 Trung cộng chiếm quần đão Hoàngsa dù lúc đó quân đội Mỹ chưa rút hết khỏi Việtnam. Tổng thống Nixon chủ trương “Việtnam hóa chiến tranh”. Nhưng chính ông đã bị mất chức vào ngày 08/08/1974 bởi chủ trương này. Ngày 30/04/1975 Việtcộng chiếm đóng Sàigòn, để rơi chiếc mặt nạ Dân Tộc Chủ Nghĩa Chống Ngoại Xâm, Giành Độc Lập, xuất hiện với bột mặt thực Cộng Sản Duy Vật Cực Đoan, trung thành với Chủ Nghĩa Xã Hội trả thù rửa hận, coi người Miền Nam là ‘ngụy quân, ngụy quyền, và nguỵ dân., tha hồ đàn áp, đầy ải kẻ thua, cướp đoạt tài sản, nhà cửa, ruộng đất, khiến hàng triệu người phải bỏ nước liều chết vượt biên tìm tự do. Cuối cùng loại luôn thứ công cụ của chúng là Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam và chính phủ lâm thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam, để thống nhất Viêtnam gọi tên là: Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, dưới sự lãnh đạo Độc Tài Toàn Trị của đảng Cộng Sản Việt Nam. Trung thành với Liênxô. Chống lại Trungcộng. Bắt thanh niên Việtnam phải hy sinh ‘làm nghĩa vụ quốc tế’ đánh Khmer Đỏ đàn em Trungcộng tại Campuchia. Trungcộng tràn quân sang Việtnam dậy cho Việtcộng ‘một bài học’. Đúng là cả Liênxô, Trungcộng, Việtcộng và Cộngsản khắp nơi đều rơi vào chiếc bẫy ‘Huynh Đệ Tương Tàn’ của Mỹ. Trungcộng trở mặt với dân Trung Hoa trong vụ đàn áp tại Thiên An Môn. Mỹ không mất một viên đạn nào mà khối Đông Âu được giải thoát. 1991 Liênxô sụp đổ. Điều đau buồn nhất là Việtcộng không nhân cơ hội ngàn năm một thuở này thoát ra khỏi ảnh hưởng của cộng sản đã hết thời, mà lại quay về thần phục Trungcộng. Để học thứ chế độ ‘nửa dơi, nửa chuột’. Rồi bị hiến đất, dâng biển, cúng tài nguyên, tạo điều kiện cho Trungcộng thôn tính trọn vẹn Việtnam và toàn vùng Đông Nam Á. Năm 1995, Mỹ quyết định quay lại Việtnam. Việtcộng coi đây là chiếc phao cứu hộ. Nhưng lại không dám Dân Chủ Hoá chế độ để dựa vào dân, phát huy thế chủ động dân tộc trong mặt trận ngoại giao quốc tế. Vẫn ‘bổn cũ soạn lại’ là ‘đu dây’, giữa Mỹ với Tầu, như thời Hồ Chí Minh, giữa Tầu với Nga. Nhưng một khi Tầu thoả hiệp để ngồi được vào chiếu thứ hai ăn chia với Mỹ, thì Việtcộng phải làm tôi hai chúa, mà kẻ trực tiếp ra lệnh đầy gian tham, ác ý là Trungcộng. Dù sao nhân kỷ niệm ngày 30/04 cũng phải lưu ý Mỹ rằng: Ngày nào Việtnam chưa có tự do, ngày ấy vết hằn nhức nhối vẫn còn nặng chĩu trong tâm thức Hoakỳ. LÝ ĐẠI NGUYÊN - Little Saigon ngày 26/04/2011
Thứ Năm, 28 tháng 4, 2011 by LTSA

Đã gần 40 năm qua, người Việt Quốc-gia gọi biến cố 30-4-1975 là ngày quốc-hận. “Hận” này, theo tôi hiểu là “hận” mất nước. Nhưng phong trào xét lại lịch-sử Chiến-tranh Việt-nam (CTVN) khởi đầu từ thập-niên cuối của Thế-kỷ 20 đã đánh đổ những sai-lạc về thực-chất của cuộc chiến do bộ máy tuyên-truyền của Đảng CSVN và các thế lực quốc-tế chủ-trương.[1] Ngày nay có nhiều bằng-chứng cho thấy biến-cố 30 tháng 4 năm 1975 chỉ là một khúc quanh trong cuộc chiến quốc-cộng: Ngày 30-4-75 không những đã làm cho chính-nghĩa quốc-gia trở nên sáng chói mà còn báo hiệu giai đoạn mở đầu cho chiến thắng cuối cùng của những người Việt-nam yêu-chuộng tự-do chống lại chế-độ độc-tài Cộng-sản và chủ-nghĩa Cộng-sản vô thần, vô tổ-quốc và vô gia-đình.

1- Biến-cố 30 tháng 4 là ngày quốc-hận ?

Tại sao lại có biến-cố 30 tháng 4 năm 1975, ngày mà phe Cộng-sản Việt-nam tiến vào thủ-phủ của người quốc-gia như chỗ không người? Xin trả lời ngắn gọn là: Vì người Mỹ đã đi đến quyết định là sự tiếp-tục tồn tại của một chính-quyền quốc-gia trên bán đảo Đông-dương đã trực-tiếp phương hại đến quyền lợi và chính sách của Hoa-kỳ trong chiến-tranh lạnh.

Đến nay có nhiều bằng chứng cụ-thể cho thấy người Mỹ đã quyết tâm hủy-hoại mọi cơ-hội chiến thắng Cộng-sản Hà-nội của phe người Việt quốc-gia. Sol Sanders một bình luận gia chính-trị quen thuộc tiết-lộ: “Washington đã chiến-thắng trong cuộc chiến tại Việt-nam cho đến khi Henry Kissinger và nội-các Nixon trong giai-đoạn “détente”, đã vận-động hậu-thuẫn tại quốc-hội Mỹ và Moscow, nhằm cắt đứt viện-trợ quân-sự cho Quân-lực VNCH sau khi đã biến guồng máy chiến tranh này lệ-thuộc hoàn toàn vào viện-trợ của Hoa-Kỳ.”[2] Trong khi đó Robert F. Turner, cựu Giám-Đốc của Center for National Security, tiết-lộ trên tờ Washington Times rằng “Quốc-Hội Hoa-kỳ đã hành động sai lầm vì đã nghe theo TNS Ted Kennedy (Massachusett) và Đảng Dân-chủ, khiến chúng ta bị thất-bại bất ngờ trong khi chiến thắng đã gần kề.”[3] Thật ra đây chỉ là một cách chạy tội, đổ lỗi qua lại.

Các nhà làm chính sách của Hoa-kỳ đã chủ-trương rằng để cho Đảng CSVN cai-trị Việt-nam, mối giao hảo giữa Hoa-kỳ và Trung-quốc sẽ được hàn-gắn lại và sẽ làm cán cân quân-bình lực lượng trong chiến tranh lạnh nghiêng hẳn về phía thế-giới tự-do. Peter Rodman, Phụ-Tá của TS Kissinger đã nhìn nhận rằng “Nixon/Kissinger đã bỏ Việt-nam để đổi lấy mối giao-hảo Hoa-kỳ – Trung-quốc và sau đó dùng Trung-quốc để chống lại Nga-sô.”[4] Đặc biệt, một tài liệu mật gồm 28,000 trang đã cho thấy TS Kissinger, một nhà làm chính-sách và cũng là một nhà thương-thuyết, đã sắp đặt để quân-đội Bắc-việt tiến vào chiếm miền Nam sau khi Ông đưa quân Mỹ rút ra khỏi miền Nam.[5]

Như vậy sự-thật về cuộc chiến quốc-cộng trong giai đoạn 1954-1975 là quân-đội quốc-gia không thua quân-đội cộng-sản. Nhưng về mặt chính-trị, áp lực mạnh mẽ của quốc-tế vì muốn đưa Đảng Cộng-Sản Việt-nam lên cai-trị toàn bộ nước Việt-nam, người Mỹ đã phá-hỏng mọi cơ hội bảo vệ tổ-quốc Nam Việt-nam của phe người quốc-gia. Để có thể tiếp-tục cuộc chiến một mất một còn với ĐCSVN, ngày 30 tháng 4 năm 1975 phe quốc-gia bị bắt buộc phải tái-phối-trí chiến lược, lìa bỏ quê-hương. Chúng ta chưa mất nước vì những người tin tưởng vào chính nghĩa quốc-gia vẫn còn đó, quê-hương vẫn còn đó, đầu-não lãnh-đạo cuộc chiến vẫn còn đó. Nguyễn Ánh chạy qua Xiêm rồi trở về dựng lại cơ-đồ. De Gaulle cũng không để mất nước Pháp khi phải chạy qua Anh. Như vậy có nên gọi biến-cố 30-4-75 là ngày mất nước không?

2- Ngày 30-4-1975: Ngày “Ô-Nhục” của tổ-quốc Việt-nam?

Kể từ ngày 30-4-1975, ĐCSVN lên nắm chính-quyền, mọi người dân Việt đã sống và chứng-kiến tận mắt một giai-đoạn lịch-sử đen tối nhục nhã chưa bao gìơ có trong lịch-sử dựng nước và giữ nước của Ông cha. Đây là quan-điểm của những người Việt đang sống ở Việt-nam, của sinh-viên du-học, và của lớp trẻ lớn lên ở hải-ngoại trở về Việt-nam để kinh doanh.

Nhà-văn Trần-Như, người đang sống ở trong nước nhận định về xã-hội Việt-nam dưới sự cai-trị của ĐCSVN như sau:

“Giặc Tầu đô-hộ nước ta một ngàn năm không ai vong thân, không ai lẫn lộn căn cước. Giặc Pháp đô-hộ Việt-nam một trăm năm, dân Việt vẫn là Việt-nam. Giặc Hồ mang học thuyết cộng-sản vào cai-trị nước ta mới có 60 năm dân bị lẫn lộn căn cước và vong thân. Xã hội Việt-nam từ khi lập quốc cho tới nay chưa có thời nào suy đốn như thời Hồ.”[6] Nói một cách dễ-hiểu, NHỤC là vì người dân trên đất Việt ngày nay không còn văn-hóa không có nhân-phẩm; họ đang sống như một con vật vì con vật không có văn-hóa và nhân phẩm.

Còn tổ-quốc và đất đai đã bị ĐCSVN vừa bán vừa dâng hiến cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc là Trung-quốc.Văn-hóa còn dân-tộc còn. Trong hơn 1000 năm Tầu đô-hộ “không ai vong-thân, không ai lẫn-lộn căn-cước” vì phong tục tập quán của Việt-nam sau lũy tre xanh vẫn được duy-trì, dân chúng không bị Tầu-hóa. Nhưng năm 1954 tại miền Bắc, ĐCSVN đã phá-hủy toàn bộ lũy tre-xanh bao bọc hệ-thống làng-xã tự-trị để thành-lập những nông-trường tập-thể với máy cầy Liên-sô xây dựng xã hội chủ-nghĩa. Trong đó mọi người vô-sản ăn cùng, ngủ cùng, làm cùng. Lẫn lộn căn cước là vậy. Vong thân vì Cộng-sản coi con người chỉ là công cụ sản-xuất bị tước đoạt nhân-phẩm nên chỉ còn là con vật. Đây là một lối-sống hoàn toàn xa-lạ đối với nếp-sống Việt-nam. ĐCSVN đã hủy-diệt văn hóa, lịch-sử, ngôn-ngữ cũng như linh-hồn Việt-nam để giúp Trung-quốc dễ bề nô-lệ hóa dân tộc. Văn-hóa mất dân-tộc mất. Nhục vì lịch-sử oai-hùng đối-kháng giặc phương Bắc của Ông-Cha đã bị kẻ nội-thù ĐCSVN “rước voi về” xóa bỏ tất cả.

Công dân Việt-nam Hà-Sĩ-Phu tóm-tắt kết qủa công-trình xây-dựng Xã-Hội Chủ-Nghĩa của ĐCSVN như sau: “Dân tộc phải đương đầu với một cuộc tổng khủng hoảng nhân cách! Xã hội đang lộn ngược do thang gía-trị lộn ngược. Chủ-nghĩa vô hồn tạo ra một khoảng trống ghê-rợn về văn-hóa, lý-tưởng và nhân cách.”[7]

Một sinh viên VN sang du-học tại Úc trong đợt đầu tiên khi Việt-nam vừa mở-cửa đổi mới, tâm-sự với tôi: “Chú ơi khi ra tới ngoài này, chúng cháu không dám nhận mình là người Việt-nam nữa!” Chính hậu-qủa cai-trị của một tầng lớp lãnh đạo thiển-cận giáo-điều đã làm sinh-viên này thấy xấu-hổ vì mình là người của một nước nghèo đói và chậm tiến nhứt thế-giới.

Những cảm nhận này của các du-học-sinh đã được Anderson Quách thấy tận mắt và kể lại rất đầu đuôi xúc-tích. Anderson là một cậu bé tị-nạn đến Mỹ lúc mới 5 tuổi và trở lại Việt-nam làm ăn vào tháng 10 năm 2007 với hy-vọng đầu-tư để phát-triển đất nước. Tuy nhiên sau 2 năm đắn đo tìm hiểu, Anderson mất 200,000 đô mà vẫn không thực hiện được mục đích của mình đành phải bỏ cuộc trở về Mỹ. Anderson nhận xét, lãnh đạo Việt-nam hiện nay không những bất-tài mà còn bất-tín và thiếu đạo-đức. Hậu qủa là một xã-hội băng hoại chờ đợi ngoại-nhân đến tiếp-quản. Về Hồ-Chí-Minh, “Tôi nhận ra rằng hai vị anh-hùng thời còn đi học của tôi có rất nhiều bí mật xấu xa mà chế-độ đã dùng mọi thủ-đoạn để biến họ thành thần-thánh, giúp cho họ gĩư vững địa vị và quyền hành. Đọc kỹ tiểu sử của Hồ Chí Minh sẽ tìm thấy một chính-trị-gia qủy-quyệt, nhiều mờ ám, dù nhìn ở bất cứ góc độ nào . . . Ông tự viết tiểu-sử để ca-tụng mình (Trần Dân Tiên), không nhìn nhận cha-mẹ, cũng như 12 đứa con rơi rớt từ các cuộc tình khắp thế-giới, viết đơn cầu xin thực dân Pháp với những lời tang bốc trơ trẽn (lá thơ gởi Quan Toàn Quyền Pháp năm 1912), làm mật-vụ cho Nga, khoe là trọn đời độc-thân để phục-vụ tổ-quốc trong khi có ít nhất 3 người vợ. . . Chuyện Ông thủ-tiêu không biết bao nhiêu là đối-thủ chính-trị có thể hiểu được vì Ông làm chính-trị kiểu Cộng-sản, chỉ biết theo gương bậc thầy như Stalin hay Mao. Nhưng tôi thật khó chịu khi phải đi khắp Việt-nam và nhìn những biểu-ngữ ca tụng “tấm gương đạo-đức của Bác Hồ”.

Anderson viết tiếp: “Sau 1 năm ở Việt-nam, tôi hiểu được một sự thật căn bản của xã-hội: Tất cả mọi con người, mọi con số đều là gỉa-dối. Quan chức nói dối để giữ quyền hành bổng lộc; doanh nhân nói dối vì quan chức đòi hỏi; người dân nói dối vì nói sự thật sẽ làm mình đau-khổ rồi còn bị công-an bắt. Nói dối trở thành một hiện tượng tự-nhiên, như ăn uống, không ai suy nghĩ thêm về khía cạnh đạo-đức của hiện-tượng này.”[8]

Ngoài cái nhục không được làm người đúng với phẩm gía con người ở ngay trên đất nước của mình, dân-tộc hiện nay còn phải chịu cái nhục lớn nhất từ xưa đến nay, đó là “hồn-thiêng sông-núi” đã bị người cộng sản đặt lên “mâm” để trước bàn thờ cúng “Bác Mao”. Thay vì lãnh-đạo đất nước bảo vệ sự toàn-vẹn lãnh-thổ, thì ĐCSVN lại cúi-đầu nhận làm “thái-thú” cho ĐCS Trung-quốc; họ sợ mất Đảng hơn mất nước.[9]

Nhân dân Việt-nam phản đối Trung-Cộng chiếm Hoàng-Sa và Trường-Sa lại bị chính-quyền của mình đàn-áp tàn nhẫn. Đảng-viên Phạm Đình Trọng viết: “Ý thức dân-tộc bị coi nhẹ đến đau lòng còn biểu hiện ra trong việc làm trong hành-xử của nhà nước với dân. Thanh -niên sinh-viên học-sinh tập họp trước sứ-quán Trung-Hoa, ôn-hòa phản đối Trung-Hoa sát nhập quần-đảo Hoàng-sa, quần-đảo Truờng-Sa vào lãnh thổ Trung-Hoa. Đó là nền văn-minh Lạc-Việt lên tiếng, là ý-thức dân tộc Việt-nam lên tiếng! Nhà nước dùng công-cụ bạo-lực trấn-áp tiếng nói chính đáng của nền văn-minh Lạc-Việt, trấn-áp ý-thức dân-tộc chính-đáng của nhân-dân . . .”[10]

Rồi vào tháng 12, 2007, khi bị Hồ Cẩm Đào điện thoại trách mắng về việc để sinh-viên Việt-nam biểu-tình phản đối Trung-Cộng xâm chiếm lãnh-thổ, Tổng Bí-Thư Nông Đức mạnh liền thề-thốt rằng “Vì tình hữu-nghị đời-đời bền vững với Trung-quốc, lãnh đạo Việt-nam sẵn sàng dâng-hiến tất cả.” Có nghĩa là ĐCSVN đã sẵn-sàng làm nội-ứng tay-sai biến Việt-nam thành một chư hầu của Trung-quốc với những bước đi cụ thể như: dâng hiến 789 cây-số vuông đất-đai thuôc Cao-bằng và Lạng-sơn; bán 11,000 cây-số vuông trên biển và chủ-quyền của hai quần-đảo Hoàng-sa và Trương-sa; giao dự-án khai thác quặng “bo-xit” trên Tây-Nguyên cho Tầu và 20000 công nhân người trung-quốc; cho phép người trung-quốc tự do đi lại ở Việt-nam từ Lạng-sơ đến mũi Cà-mâu (không cần hộ chiếu).

Nếu qúi độc-gỉa chưa thấy rõ cái “nhục” mà Trung-cộng cố tình gây ra cho dân Việt, tôi xin nhắc lại mấy trường hợp sau đây. Dân ta đánh-cá trong hải-phận Việt-nam bị tầu Trung-cộng đuổi đi sau đó còn bắn chết người và đánh chìm tầu của người Việt. Đặc biệt lúc ấy chiến-hạm Việt-nam chỉ đứng nhìn như không có chuyện gì xẩy ra. Sau đó Trung-cộng nói đấy là sự thỏa thuận chung.[11] Vào ngày 29 tháng 4 năm 2008, khoảng 200 thanh niên Trung-cộng mặc đồng-phục Olympic 2008 với cờ quạt ngang nhiên kiêu hãnh diễn-hành tại thành-phố Hồ-Chí-Minh. Trước tòa Đại-sứ Trung-quốc ở Hà nội, có khoảng 30 thanh-niên Trung-quốc biểu-tình hô khẩu-hiệu “Hoàng-sa và Trường-sa là của Trung-quốc”; không có chuyện gì xẩy ra. Nhưng khi sinh-viên Việt-nam biểu tình chống Trung-cộng chiếm Hoàng-sa và Trường-sa thì lại bị nhà cầm quyền Việt-nam đàn-áp bắt bớ. Không nhục sao?

Mới đây ĐCSVN còn cho dịch ra tiếng Việt cuốn sách của Trung-Quốc, “Ma Chiến-Hữu”, ca-ngợi quân-đội Trung-quốc anh-hùng trong trận chiến Việt-Trung năm 1979. Sách dịch ra tiếng Việt lập tức được cho phổ biến khắp Việt-nam. Trong khi đó sách Việt ca-ngợi anh-hùng VN và chống Trung-quốc lại bị thâu-hồi? Báo-chí và dân-chúng không được phép dùng chữ “Trung-cộng” để chỉ “Trung-quốc”! Như vậy có nhục không?

Bằng chứng viện dẫn cho thấy biến-cố 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu ngày ĐCSVN đưa dân chúng Việt-nam vào một cuộc sống ô-nhục, ngang với loài vật. ĐCSVN lãnh-đạo, xóa căn cước Việt của người dân, đưa đất nước vào vòng nô-lệ Trung-cộng. Một chuyện chưa từng xẩy ra trong lịch-sử nước Việt. Nếu người dân Đức coi bức tường Bá-Linh là bức tường “Ô-Nhục”, dân-chúng Việt-nam phải gọi ngày 30-4 là ngày “quốc-nhục” mới thật đầy-đủ ý-nghĩa và đúng.

3- Biến-cố 30-4-1975: Một khúc quanh trong cuộc chiến quốc cộng

Nghị-trình duy nhất và vô cùng cấp-bách của cộng-đồng tị-nạn Việt-nam tại hải-ngoại hiện gìơ chính là “Cái nhục của chậm tiến và cái họa nô-lệ Tầu-cộng” của Việt-nam dưới sự cai-trị của ĐCSVN. Trong ý-nghĩa này, ngày “quốc-nhục” tiếp-tục nhắc nhở những ngừõi yêu-chuộng tự-do rằng cuộc-chiến “quốc-cộng” vẫn còn đang tiếp-diễn. Nhưng hiện-nay cán-cân quân bình lực lượng đã nghiêng hẳn về phe người quốc-gia. Kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, ĐCSVN đã để lộ ra bộ mặt thật của họ khiến cho chính-nghĩa của phe quốc-gia trở-nên mạnh-mẽ và sáng chói hơn bao gìơ hết. Đúng như tướng Do Thái Ông Moshe Dayan nhận định trong chuyến thăm viếng Nam Việt-nam: “Nếu muốn thắng cộng-sản, Miền Nam phải thua Cộng-sản trước đã.”

Trong khoảng từ 1930 đến 1975, Cộng-sản Việt-nam đội lốt Chủ-nghĩa Dân-tộc để đánh lừa người Việt yêu nước và dư-luận thế-giới. Nhưng từ 1975 đến nay họ đã hiện nguyên hình là một đảng say mê quyền-lực, một đảng cướp. Họ thi hành triệt để giáo điều Mac-xit Lenin-nit để củng cố quyền-lực và ăn cướp bóc-lột của dân-chúng qua các chính-sách cải-cách ruộng đất, kiểm-kê và đánh tư-sản, trăm hoa đua nở, chế-độ lý-lịch “đào tận gốc tróc tận rễ”, hợp tác xã sản-xuất, nông-trường tập-thể, làm theo chỉ-tiêu hưởng theo nhu cầu, vân vân . . .

Cái chính-nghĩa dân-tộc mà ĐCSVN dung làm bình-phong để lừa-gạt những người yêu-nước từ trước đến gìơ đã bị chính lãnh-tụ Hồ-Chí-Minh vô tình đạp đổ. Trong lúc hấp hối Bác Hồ đã thổ-lộ với các đồng-chí trong Bộ Chính-Trị là mình sẽ đi gặp “Bác Stalin và Cụ Lênin!” “Dân-tộc” gì mà khi sắp chết lại không muốn gặp Lê-Lợi, Hưng Đạo là các anh-hùng dân tộc, hay Ông Bà tổ-tiên của mình mà lại đòi về với mấy người Nga? Vì thế ĐCSVN đã mất cái thế nhân-dân. Chính-quyền và cán bộ hiện nay đều chân trong chân ngoài để tháo chạy vì tổ-chức của ĐCSVN đã hoàn toàn phân-hóa rữa nát, mất định-hướng, nơm nớp lo sợ diễn tiến hòa-bình.

Chính lời trăn-trối của Hồ Chí Minh phủ-nhận chính-nghĩa dân-tộc và trao cái thế nhân-dân lại cho phe quốc-gia. Rồi “cái họa nô-lệ Tầu và cái nhục không được làm người” do hậu qủa cai-trị của ĐCSVN từ 1975 đến nay đã trao thế chủ-động trong cuộc chiến quốc-cộng vào tay của phe người quốc-gia. Tóm lại thực-tế “tự hủy-diệt” của phe Cộng-sản đã mở đường đưa phe quốc-gia vào thế thượng-phong và chiến thắng cuối cùng.

Thêm vào đó, Cộng-đồng người Việt hải-ngoại hiện nay như Cựu Đại-sứ Lâm-Lễ-Trinh phân tích có một tiềm lực kinh tế, chính-trị, giáo-dục và trí-tuệ hơn hẳn tổ-chức chính-quyền của nhà nước XHCN Việt-nam. Ví-dụ như tổng-sản-lượng quốc-gia của Việt-nam vào năm 2001 là 14.5, tỉ trong khi đó lợi-tức của 3 triệu người tị-nạn là 15 tỉ.[12] Số tiền của hải ngoại gởi về giúp bà con hiện nay đã lên đến gần 7 tỉ tức là xấp-xỉ 1/2 tổng sản lượng của cả nước. Điều đáng lưu-ý là trong số 3 triệu người này lại có một lực lượng chuyên-viên lỗi-lạc trong mọi lãnh vực lên đến 300,000 người. Theo Ông Lâm Lễ Trinh, đây là một con số thống kê chưa từng thấy tại các nước ĐNA.

Cuối cùng, một điều rất hiển nhiên cần lưu-ý đó là thời-cơ và thế ngoại vận của phe người Việt quốc-gia đang làm cho chế-độ độc-tài CSVN tuyệt-vọng. Về thời cơ chẳng hạn, cuộc cách mạng tin học và trào lưu “toàn-cầu-hóa” hoàn toàn không thuận lợi cho các chế-độ độc-tài. Vì thế tiến trình dân chủ-hóa Việt-nam sẽ không thể nào đảo ngược được. Phe người Việt quốc-gia, khởi đầu với nền Đệ-Nhất Cộng-Hòa tại miền Nam Việt-nam do Ông Ngô Đình Diệm lãnh đạo, chủ-trương xây dựng một chế-độ dân chủ đích-thực. “Xã-hội khép kín” của ĐCSVN đã bị cuộc cách-mạng tin-học và cơn-bão “toàn cầu hóa” mở tung ra và còn đang tiếp-tục mở rộng hơn nữa với những phong trào đòi dân-chủ ở trong nước bắt tay làm đầu-cầu cho hải-ngoại tiến vào mở trận-đánh cuối-cùng: ĐCSVN gọi đó là “Diễn tiến Hòa-bình”. Bây giờ chính là thời cơ của phe yêu-chuộng tự-do và độc-lập thực-sự của dân-tộc vì cả thế-giới hô hào dân-chủ-hóa.

Thế thượng phong của hải-ngoại về mặt trận ngoại-giao lại càng rõ rệt hơn. Trong thời chiến, Nam Việt-nam bị Hà-nội cấu kết với các cường quốc để tạo ra những phong-trào phản-chiến trên thế-giới, vận-động mua chuộc đại-diện dân-cử tại các quốc-hội trên thế-giới và những cuộc trao đổi quyền-lợi đội lốt các hiệp-định Geneve 1954 và Paris 1973. Ngày nay chính người tị-nạn đang dùng “gậy ông đập lưng ông” trả lại ĐCSVN những gì họ đã làm trước đây. Các lãnh đạo và đại-diện ngoại-giao của Việt-nam hiện nay mỗi khi thăm viếng để xin-xỏ một điều gì ở các quốc-gia có người tị-nạn, đều phải trốn chui trốn nhủi không dám đi vào cửa chính. Người Việt quốc-gia ở hải-ngoại hiện nay ngoài các hoạt-động về kinh-tế xã-hội kỹ-thuật giáo-dục, đã bắt đầu tích-cực tham gia vào các cơ chế dân-cử sẵn-sàng dùng các phương thức dân-chủ hiến định để đập tan những hành động gian manh của CSVN tại các quốc gia này. ĐCSVN đang ở vào thế “tứ bề thọ địch”!

4- Thay lời kết

Việc ĐCSVN bán đất bán biển và làm tay sai cho chủ-nghĩa bành-trướng của Trung-Cộng đang đẩy mạnh và làm cho trận-chiến cuối cùng giữa hai phe “quốc và cộng” bùng nổ sớm hơn người ta tưởng. Nhờ vào kỹ thuật tối tân của tin học, những gì mà ĐCSVN cố tình dấu-diếm đã được thế-giới bên ngoài, chính xác hơn là cộng-đồng người Việt tự-do hải ngoại, biết đến. Ví-dụ bí-mật về vụ bán biển được gởi ra quốc-ngoại từ email ngày 20 tháng 8 năm 2008 gồm cả bản Anh-ngữ lẫn Việt-ngữ và đã được Đại-Tá Phạm Bá Hoa trích dẫn như sau: “. . . Ngày 25 tháng 12 năm 2000, Chủ-tịch Trần Đức Lương sang THCS gặp Chủ-tịch Giang Trạch Dân và hai bên cùng ký hiệp ước. Theo đó VNCS bán một phần biển cho THCS với gía 2,000,000,000 mỹ kim (2 tỉ), và THCS trả cho Việt-nam dưới hình thức đầu-tư . . . . .”[13] Nhờ đó, hải-ngoại mới hay biết sự việc và đang vận dụng mọi tài nguyên sẵn có để bổ túc tiếp cứu cho những gì mà kẻ-sĩ trong nước đang bị kềm-kẹp không thể phản-ứng hữu-hiệu được.[14]

Một cây viết trong Việt-nam (có lẽ cũng là 1 đảng viên cao cấp) với bút-hiệu “Người Buôn Gío” tung lên “net” bài viết báo động mất nước. Ông cho biết vì những khó-khăn dưới chế-độ CS, kẻ-sĩ đành bó tay, không thể làm tròn sứ mạng “thất-phu hữu-trách”. Theo Ông, việc ĐCSVN gạt bỏ mọi can-ngăn tự quyết-định để THCS khai thác quặng bo-xit trên Tây-Nguyên chính là muốn mở đường cho người Tầu đào “mồ chôn nước Việt”. Ông cho rằng vấn đề Hoàng-sa và Trường-Sa rồi cũng thế:

“Nếu Tây-Nguyên đã là phần của người Trung-quốc làm ăn, thì việc tranh cãi về Hoàng sa – Trường sa có thể đoán kết-qủa là vô-nghĩa. Không phải ngẫu nhiên mà khi các nhà sử-học Bắc-kinh được tài-trợ quy-mô, bài bản để sưu-tập tài-liệu hay chế-biến lịch-sử để chứng minh chủ-quyền các hải-đảo đó là thuộc về họ. Chính-phủ Việt-nam vẫn bình chân như vại, một số nhà tâm-huyết do điều kiện hạn-chế chỉ sưu-tầm tìm hiểu trong khả năng của mình, kinh phí tự-túc do bản thân bỏ ra. Thậm chí việc Hoàng sa-Trường sa không được báo chí nhắc đến là khó khăn cho những trí-thức và học-gỉa trong qúa-trình tìm tòi tài-liệu, vô hình chung biến hai quần-đảo này thành đề tài bí-mật không được bàn tán công khai.”[15]

Nhờ chủ-trương tài-trợ quy mô của Bắc-kinh cho các nhà sử-học, THCS đã có được bài bản để hỗ-trợ về mặt công-pháp cho âm mưu bành-trướng của họ tại biển Đông. Ví-dụ họ sửa lịch-sử, viết sách nói rằng Hoàng-sa Trường-sa là của Trung-quốc rồi đưa vào trường học để dậy cho học-sinh Việt-nam; họ vẽ ra bản đồ lãnh-hải 12 hải-lý để bao gồm các quần đảo nói trên; họ đặt ra tên mới cho hai quần đảo này là Huyện Tam-sa và thuộc về tỉnh Hải-nam của Trung-quốc; họ xây cất các hạ-tầng cơ-sở kể cả phi-đạo và hải-cảng; họ đem những giống cây lục địa ra và trồng ở đó; quân-đội cũng được điều động ra đồn trú. Về mặt tuyên-truyền họ bắt đầu lên-tiếng tuyên bố Chủ-quyền của Trung-quốc trên các hòn-đảo này; họ cho công bố bản-đồ; cho người biểu-tình ủng-hộ; ra lệnh cho ĐCSVN bịt miệng những người nói ngược lại. Ví-dụ như “Văn-thư đề ngày 7-12-07 cấm sinh-viên biểu-tình của Phó Hiệu-trưởng Đại-học Công-nghệ Hà-nội, Ông Hà Quang Thụy, Bí Thư Đảng-ủy . . . . Văn thư đó còn đòi các thủ-trưởng phải góp-phần vào việc ngăn-chận biểu-tình.”[16]

Báo-chí hải-ngoại và “internet” là một nguồn thông-tin dồi-dào về các tin tức liên-quan đến cái xã-hội bị bưng-bít ở Việt-nam. Tuy-nhiên họ không được đào-tạo để làm những công-việc bài-bản quy-mô như các học-gỉa và sử-gia Trung-quốc đã làm để phục-vụ cho âm-mưu bành-trướng của ĐCSTQ chiếm đoạt Hoàng-sa và Trường-sa của Việt-nam. Đây là một vấn đề lớn-lao vì nó liên-quan đến cuộc tranh-chấp quyền lợi giữa hai quốc-gia. Nếu hai bên không thể giàn-xếp ổn-thỏa bằng con đường ngoại-giao, vụ-việc sẽ phải được giải-quyết tại tòa-án quốc-tế. Vì thế để có thể lập được một hồ-sơ pháp-lý cho một vụ án quốc-tế là chuyện của những chuyên-gia công-pháp quốc-tế, những nhà thương-thuyết ngoại-giao lão-thành, những sử-gia học-gỉa uyên-thâm, mới mong thực-hiện được một căn bản pháp-lý vững-chắc để đánh bại đối-phương. Ngoài kiến thức chuyên-môn còn phải có tài-nguyên dồi-dào và thời-gian để thực-hiện. Xin lấy một ví-dụ, Trung-quốc công-bố một bản-đồ trong đó bao-gồm hai quần-đảo tranh chấp. Cùng lúc đó họ trưng bầy hình ảnh khai quật được một số đồ-gốm đời nhà Minh trên đảo Trường-sa chẳng hạn. Muốn cãi lại họ chúng ta phải có đủ bằng chứng là người Việt-nam xuất hiện tại đây trước đời Minh.

Để đáp-ứng nhu-cầu này, vào khoảng giữa năm 1995 một tổ-chức đã được thành-lập tại hải-ngoại với cái tên là Ủy-Ban Bảo-Vệ Sự Vẹn-Toàn Lãnh-Thổ (BVSVTLT). Vì nhu cầu đòi-hỏi, năm 2008 tổ-chức phải lập thêm một đơn vị đặc-trách về vấn-đề Hoàng-sa và Trường-sa tên là Ủy-Ban về Hoàng-sa và Trường-sa. Ủy-Ban BVSVTLT gồm các luật-gia, các gíao-sư về công-pháp, các sử-gia và học-gỉa uyên-bác. Họ đang hy-sinh đáp lại tiếng kêu cứu của núi-sông làm tròn trách nhiệm “thất-phu hữu-trách”. Người sáng lập ra tổ-chức này là một Ông gìa 73 tuổi. Trước đây, ở Việt-nam, Ông là Phụ-tá Khoa-Trưởng Luật-khoa, Giáo-sư chính-trị và công-pháp. Sau 1975 là học-gỉa tại Hoover Institute, nghiên-cứu về “Cách-mạng, Chiến-tranh và Hòa-bình, Đồng Giám-đốc Dự-án Oral Life History tại Viện Nghiên-cứu Đông Á Đại-học U.C. Berkeley, California.

Thành-qủa mà Ủy-ban này đã thực-hiện được trong năm 2008 là một Bạch-Thư về Hoàng-sa và Trường-Sa. Và cũng trong năm 2008 này họ đã hoàn-tất được một hồ-sơ pháp-lý về Hoàng-sa và Trường-sa, sau 13 năm dài nghiên-cứu sưu-tầm. Hồ-sơ này sẽ giúp cho chính-quyền hậu cộng-sản của Việt-nam đưa vấn-đề tranh-chấp chủ-quyền trên hai quần-đảo Hoàng sa và Trường sa giữa Việt-nam và Trung-quốc ra trước tòa-án quốc-tế.

Hiện nay Ông đang dùng hết thì gìơ hưu-dưỡng đi khắp năm châu để diễn-thuyết cho đồng hương và “giáo-dục” các nhà làm chính-sách ở các nước sở tại về những việc phi-pháp mà ĐCSVN đang tiếp tay thực hiện âm-mưu bành-trướng của Trung-Cộng, trong đó có vụ Hoàng-sa Trường-sa và hậu-qủa của nó. Ông gìa đó chính là Giáo-sư Tiến-sĩ Nguyễn Văn Canh.

Đây là một vấn-đề lớn có liên-quan đến lợi-ích của toàn dân toàn quân, vượt lên trên lợi-ích của các phe phái cho nên những buổi nói chuyện của GS Nguyển Văn Canh đã được đồng-hương khắp nơi trên thế-giới hân-hoan đón-nhận. Ngoài ra sự ra đời của Ủy-ban BVSVTLT là sự lên tiếng của hải-ngoại đáp-lại lời kêu cứu của thức-giả và dân-chúng ở trong nước. Phải chăng đây là một sơi dây nối kết trong và ngoài nước và mọi thành-phần người Việt-nam yêu nước lại với nhau? Theo tôi, chính cái “nhục nô-lệ và họa mất-nước mà ĐCSVN đã gây ra đã khiến hưng-vận của nước Việt-nam tái xuất-hiện.

Nên gọi ngày 30-4-75 là ngày quốc-hận hay là ngày quốc-nhục? Có một điều chắc chắn đó là ngày đánh dấu giai đọan mở đầu chiến-thắng cuối-cùng của người Việt không cộng-sản.

TS Nguyễn Ngọc Tấn