Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012 by Lý Tưởng Người Việt
19750430Biến cố 30/04/1975 là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Nhiều sách báo đã viết về biến cố nầy. Nhân sắp đến ngày 30/04, ở đây chỉ xin ôn lại diễn tiến trong ngày 30/04/1975 tại Sài Gòn.
1 - Diễn tiến ngày 30/04/1975
Từ 26/04/1975, quân Cộng Sản bao vây Sài Gòn từ 5 hướng : hướng Bắc ( Quân Đoàn 1 CS ) , hướng Tây Bắc ( QĐ 3 CS ) , hướng Đông (QĐ 4 CS), hướng Đông Nam ( QĐ 1 CS ) , hướng Tây và Tây Nam ( Đoàn 232 và SĐ 8 thuộc Quân Khu 8 CS ) . Chiều 26/04 , CS bắt đầu tấn công, đánh phá vòng đai phòng thủ bên ngoài, chiếm Long Thành, Trảng Bom, Nhơn Trạch, Bà Rịa, cắt đường số 4 từ Sài Gòn đi miền Tây .
Đối đầu với lực lượng lớn mạnh nầy, quân đội Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) bảo vệ thủ đô Sài Gòn chỉ gồm Quân Đoàn III (hai sư đoàn 5 và 18) , các chiến đoàn tập họp từ các sư đoàn của QĐ I và QĐ II di tản vào Sài Gòn, các Lữ Đoàn TCLC, Dù, các Liên Đoàn BĐQ, một số Trung Đoàn Pháo Binh, Kỵ Binh Thiết Giáp và Nghĩa Quân, Địa Phương Quân. Các đơn vị nầy đều thiếu quân vì trước đó đã bị tấn công, phải di tản, đồng thời thiếu trang bị võ khí, đạn dược và thiếu nhiên liệu cần thiết.
Chiều 28/04, ngay sau khi cựu Đại Tướng Dương Văn Minh vừa nhận chức Tổng Thống, 5 chiếc A-37 trước đây của Không Quân VNCH bị CS tịch thu, nay dưới sự hướng dẫn của Nguyễn Thành Trung, cựu Trung Uý phi công VNCH, vốn là đảng viên CS cài vào Không Quân VNCH, bay đến thả bom sân bay Tân Sơn Nhứt. Tối hôm đó, CS tiếp tục pháo kích vào sân bay Tân Sơn Nhứt làm hỏng các phi đạo. Phi trường không thể sử dụng được, nên phải dùng trực thăng đề di tản.
Hôm sau 29/04, CS chiếm được các căn cứ Nước Trong, Long Bình, thành Tuy Hạ (quận Long Thành, tỉnh Biên Hoà), Đồng Dù (Củ Chi ), Hậu Nghĩa. Sáng 30/04 quân CS bắt đầu tiến vào nội thành Sài Gòn. Trước sự đe doạ của CSVN, ảo vọng thương thuyết của Dương Văn Minh hoàn toàn tan vỡ. Cuối cùng, lúc 1024 giờ sáng 30/04/1975, qua đài phát thanh Sài Gòn, Dương Văn Minh, với tư cách Tổng Thống Tổng Tư Lệnh Quân Đội, nhận chức trước đó 2 ngày, ra lệnh toàn thể quân đội VNCH ngưng chiến đấu, hạ khí giới. Sau đây là nguyên văn lời Dương Văn Minh :
«Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hoà giải và hoà hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hoà giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu của người Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu thì ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng, vì chúng tôi ở đây đang chờ gặp chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào». (Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hoà, 10 ngày cuối cùng, Fountain Valley, CA : NXB Nam Việt, 2006, tr 358)
Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh , tổng tham mưu phó quân đội VNCH , thay mặt trung tướng Vĩnh Lộc , tổng tham mưu trưởng ( vắng mặt ) , ra lệnh cho tất cả quân nhân các cấp phải nghiêm chỉnh thi hành lệnh của Tổng Thống Dương Văn Minh .
Lúc 1130 giờ ngày 30/04/1975, xe tăng của Đại Đội 4, Lữ Đoàn Thiết Giáp 203 CS tiến vào dinh Độc Lập. Lúc đó, một số cán bộ Trung đoàn 66 thuộc Sư đoàn 304 CS, do Đại Uý Trung Đoàn Phó Phạm Xuân Thệ dẫn đầu, đến phòng họp dinh Độc Lập, nơi có mặt Tổng Thống Dương Văn Minh và nội các của Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu. Đại Uý Thệ đã nói thẳng với Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu rằng các ông bị bắt làm tù, phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện và không có gì bàn giao cả. Sau đó, quân CS áp tải Dương Văn Minh tới đài Phát thanh để đọc lời tuyên bố đầu hàng. Tại đài phát thanh, các sĩ quan CS soạn tại chỗ lời đầu hàng, và buộc cựu Đại Tướng Dương Văn Minh phải đọc như sau :
« Tôi, Đại Tướng Dương Văn Minh, Tổng Thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi quân đội Việt Nam Cộng Hoà hạ vũ khí, đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn, từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, giao toàn chính quyền từ trung ương đến địa phương lại cho chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam». (google . com . vn ) (vào chữ Dương Văn Minh, tìm 30/04).
Trước áp lực của họng súng quân thù, cựu Đại Tướng Dương Văn Minh đành phải đọc bản văn do CS soạn sẵn , «kêu gọi quân đội Việt Nam Cộng Hoà hạ vũ khí, đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam». Quân đội VNCH liền ngưng chiến đấu, tự nhiên rã ngủ, trong khi còn nhiều đơn vị vẫn muốn tiếp tục chống cộng, nhất là Quân Đoàn IV vẫn còn nguyên vẹn, chưa thất trận. Việt Nam Cộng Hoà hoàn toàn sụp đổ.
2 - Ngày Quốc Hận
Thông thường, người ta tản cư hay di tản khi chiến tranh bùng nổ. Người ta bỏ chạy để tránh lửa đạn. Đàng nầy, chiến tranh chấm dứt ngày 30/04/1975, lửa đạn không còn, mà người ta bỏ chạy, chạy xa thật xa, nghĩa là người ta sợ cái gì còn hơn lửa đạn.
Ngay khi CS chiếm Sài Gòn, khoảng 150000 người Việt bỏ ra nước ngoài, trong đó khoảng 140000 đến Hoa Kỳ và khoảng 10000 đến các nước khác. ( Nguồn: UNHCR , The State of the World's Refugees – Fifty Years of Humanitarian Actions, ch 4, tr 81). Cộng Sản Việt Nam tố cáo những người di tản là tay sai đế quốc Mỹ . Theo luận điệu nầy, trưa ngày 30/04/1975, Trịnh Công Sơn lên đài phát thanh Sài Gòn phát biểu rằng: «Những kẻ ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước». (Trích nguyên văn: http://ngoclinhvugia.wordpress.com/). Viên nhạc sĩ nầy còn hát bài «Nối vòng tay lớn», nhưng dân chúng không chấp nhận vòng tay lớn của CS, tiếp tục ra đi dù bị kết tội «phản quốc».
Sau ngày 30/04/1975, càng ngày càng có nhiều người kiếm cách ra nước ngoài, dầu phải hy sinh chính mạng sống của mình, tạo thành phong trào vượt biên. Theo thống kê của Cao uỷ Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc đưa ra năm 2000, từ ngày 30/04/1975 cho đến cuối năm 1995, tổng số người di tản và vượt biên đến được các trại tỵ nạn là 989100 (gần một triệu) kể cả đường biển lẫn đường bộ. Người ta phỏng chừng có khoảng từ 400000 đến 500000 thuyền nhân bỏ mình trên biển cả hay bị hải tặc bắt giết. Ngoài ra, phải kể thêm số người rời Việt Nam qua các hải đảo nhưng không đậu thanh lọc và bị đuổi về nước. Nếu kể thêm chương trình ODP (Orderly Departure Program) và chương trình HO do chính phủ Hoa Kỳ tài trợ, đưa vài trăm ngàn người nữa ra nước ngoài bằng đường chính thức, thì tổng cộng tất cả các số liệu trên đây, sau khi CS chiếm miền Nam Việt Nam, trên 1,5 Triệu người Việt đã bỏ nước ra đi.
Đây chỉ là những người có điều kiện ra đi. Còn biết bao nhiêu người muốn ra đi mà không đi được. Nghệ sĩ Trần Văn Trạch đã từng nói một câu bất hủ: «Ở Việt Nam hiện nay, cây cột đèn cũng muốn ra đi«.
Trước khi quân Cộng Sản vào Sài Gòn, nhiều chức quyền cao cấp VNCH đã di tản ra nước ngoài. Trong số các chức quyền ở lại, có phó Tổng Thống rồi Tổng Thống Trần Văn Hương. Ngày 28/04/1975, trước khi bàn giao chức vụ Tổng Thống cho Dương Văn Minh , đại sứ Pháp ở Sài Gòn cho người đến mời Tổng Thống Hương di tản. Ông Hương trả lời : «Nếu trời hại, nước tôi mất, tôi xin thề là tôi sẽ ở lại đây và mất theo nước mình». Sau khi Trần Văn Hương giao quyền Tổng Thống cho Dương Văn Minh tối 28/04, thì hôm sau, ngày 29/04 đích thân đại sứ Hoa Kỳ là Graham Martin đến gặp Trần Văn Hương và mời ông ra đi. Trần Văn Hương trả lời như sau: «Thưa ông đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có một phần trách nhiệm trong đó. Nay ông đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ và dứt khoát ở lại với nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng Cộng Sản vào được Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào niềm đau khổ tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cảm ơn ông đại sứ đã đến viếng tôi». Sau khi nghe Trần Văn Hương trả lời, Martin nhìn trân trân vào ông Hương, rồi ra đi mà chẳng bắt tay từ biệt ( Trần Đông Phong , sđd tt 352-355 ).
Trần Văn Hương thấy trước và nói rất đúng: «Tôi cũng dư biết rằng Cộng Sản vào được Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam». Nước mất là mất tất cả. Mất tất cả các quyền tự do dân chủ, cả tôn giáo, văn hoá, mất tài sản, nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, có người mất luôn cả thân nhân nữa. Trước ngày 30/04/1975, dầu chưa hoàn thiện, dầu bị giới hạn vì chiến tranh, chế độ Cộng hoà vẫn là chế độ tự do, dân chủ, tôn trọng dân quyền và nhân quyền.
Khi mới chiếm được miền Nam, Cộng Sản bắt ngay sĩ quan, công chức, cán bộ của VNCH còn lại trong nước giam giữ dài hạn, không tuyên án trên các vùng rừng thiêng nước độc. Số lượng sĩ quan, công chức và cán bộ VNCH bị bỏ tù khoảng hơn 1 Triệu người tại trên 150 trại giam; theo đó, khoảng 500000 được thả về trong 3 tháng đầu, 200000 bị giam từ 2 đến 4 năm, 250000 bị giam ít nhất 5 năm, và năm 1983 (tức sau 8 năm) còn khoảng 60000 người bị giữ lại. (Spencer C. Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, a Political, Social, and Military History, Volume Two, Santa Barbara, California, 1998, tr 602). Số liệu nầy theo dư luận chung, còn thấp hơn so với số lượng người và số năm bị thực giam. Ngoài ra, trong số trên 1 Triệu người bị tù sau năm 1975, theo những cuộc nghiên cứu ở Hoa Kỳ và Âu Châu, có khoảng 165000 nạn nhân đã từ trần trong các trại tù «cải tạo». ( Anh Do & Hieu Tran Phan, «Millions of lives changed forever with Saigon's fall», nhật báo Orange County Register, số ngày Chủ Nhật, 29/04/2001, phụ trang đặc biệt về ngày 30/04 , tt 2-3). Sau khi bắt giam hàng triệu công chức quân nhân trên toàn cõi miền Nam Việt Nam, Cộng Sản trấn áp dân chúng miền Nam bằng nhiều phương thức khác nhau :
Thực hiện chế độ hộ khẩu, ai ở đâu ở yên đó, không được di chuyển, không có quyền tự do đi lại. Muốn đi lại phải xin giấy phép khó khăn. Về kinh tế, Cộng Sản đổi tiền nhiều lần một cách tàn bạo. (Đổi lần đầu ngày 22/09/1975, năm trăm (500) đồng VNCH lấy 1 đồng mới. Đổi lần thứ hai ngày 03/05/1978 và lần thứ ba ngày 14/09/1985). Cộng Sản tổ chức đánh tư sản mại bản, tư sản dân tộc, tư sản nhỏ (tiểu tư sản), lục soát nhà cửa, tịch thu vàng thật, rồi lập biên bản là «kim loại có màu vàng», để đổi vàng giả.
Cộng Sản cướp nhà cửa, buộc những người khá giả phải hiến đất, hiến nhà để khỏi bị tù. Tại thành phố, CS đưa vào quốc doanh tất cả những xí nghiệp, cơ sở kinh doanh do CS quản lý. Tại nông thôn, CS quốc hữu hoá toàn thể đất đai, ruộng vườn; nông dân phải vào hợp tác xã, làm việc chấm công để lãnh lúa, dân chúng gọi là «lúa điểm» tức «liếm đũa». Cộng Sản buộc dân chúng phải đi kinh tế mới , sống trên những vùng khô cằn, nghèo khổ. Cộng Sản thi hành chính sách ngăn sông cấm chợ, để CS độc quyền lưu thông và phân phối hàng hoá. Tất cả chính sách của CS nhắm làm cho dân chúng nghèo khổ cho CS dễ cai trị.
Chính sách cai trị của CS sau năm 1975 đưa Việt Nam đến bờ vực thẳm, nguy hại cho chính CS. Trước tình hình đó, CS mở phong trào đổi mới từ năm 1985. Cộng Sản đổi mới để tự cứu mình chứ không phải để cứu dân tộc Việt Nam. Từ đó, Việt Nam thay đổi dần dần, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập WTO vào đầu 2007. Tuy nhiên dầu đổi mới về kinh tế nhưng Cộng Sản vẫn duy trì độc quyền chính trị, lo sợ « diễn biến hoà bình», định hướng kinh tế xã hội chủ nghĩa, không cho tự do báo chí, bóp nghẹt tự do dân chủ , không tôn trọng dân quyền và nhân quyền. Cho đến nay, ở trong nước chưa có một tờ báo tư nhân, chưa có một tổ chức hay đoàn thể chính trị nào đứng ngoài quốc doanh.
Như thế, ngày CS vào Sài Gòn, chấm dứt chế độ VNCH , là một biến cố lịch sử có tầm vóc lớn lao, làm thay đổi dòng sinh mệnh dân tộc, ảnh hưởng lâu dài cho đến ngày nay. Ngày 30/04 cũng là ngày mở đầu thảm hoạ chẳng những cho dân chúng miền Nam mà cho cả toàn dân Việt Nam khi chế độ Cộng Sản càng ngày càng bạo tàn, tham nhũng và nhất là lộ rõ bộ mặt tay sai Trung cộng, dâng đất, nhượng biển, quy luỵ Bắc Kinh để duy trì quyền lực. Vì vậy dân chúng gọi ngày nầy là ngày Quốc Hận. Hai chữ Quốc Hận do dân chúng tự động đặt tên cho ngày 30/04 và truyền khẩu với nhau thành danh xưng chính thức, chứ không có một chính phủ, hay một đoàn thể chính trị nào đặt ra. «Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ».
3 - Ngày Quốc Hận Là Ngày Quốc Hận
Những người vượt biên được gọi chung là thuyền nhân Thuyền nhân là từ ngữ được dịch từ chữ «boat people» trong tiếng Anh, xuất hiện từ cuối thập niên 70 để chỉ những người Việt bỏ nước ra đi sau khi Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam.
Người Việt vốn ràng buộc với đất đai, ruộng vườn, chỉ ra đi trong hoàn cảnh bất đắc dĩ mà thôi Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, số lượng người Việt bỏ nước ra đi lên đến hàng triệu người. Đặc điểm nổi bật của phong trào thuyền nhân là tất cả những người vượt biên đều tự nguyện ra đi, tự mình muốn ra đi, hoàn toàn tự phát ra đi theo từng gia đình, từng nhóm nhỏ. Không có một đảng phái, một thế lực chính trị hay một nước ngoài nào can thiệp hay tổ chức cho thuyền nhân ra đi. Có khi, nhà cầm quyền CS lợi dụng lòng khao khát ra đi tìm tự do của dân chúng để bán bãi, hay tổ chức vượt biên bán chính thức nhằm lấy vàng. Dầu ra đi trong kế hoạch mà CS gọi là «bán chính thức», người ra đi vẫn là những người tự nguyện muốn rời bỏ Việt Nam để tránh nạn độc tài Cộng Sản.
Như thế, vượt biên hay thuyền nhân là một phong trào của vài triệu người, kéo dài trong nhiều năm và nhiều địa điểm khác nhau. Phong trào nầy là hậu quả của ngày Quốc Hận 30/04. Ngày 30/04 là ngày đánh dấu sự thành công của chế độ độc tài toàn trị, gây tang thương cho dân tộc Việt Nam. Nỗi đau nầy càng ngày càng nhân lên khi CSVN càng ngày càng đàn áp phong trào dân chủ quốc nội. Chỉ vì lòng yêu nước, người Việt biểu tình phản đối TC xâm lược mà cũng bị CSVN bắt giam thì trên thế giới, chuyện nầy chỉ xảy ra ở Việt Nam.
Hai sự kiện ngày Quốc Hận 30/04 và Phong trào thuyền nhân hoàn toàn khác nhau và không thể lẫn lộn nhau. Ngày 30/04 là ngày kỷ niệm Quốc Hận của toàn dân. Phong trào thuyền nhân ban đầu chỉ khoảng 1, 5 T người . Nếu ngày nay, dân số thuyền nhân phát triển lên khoảng 3 T, thì ở trong nước, dân số tăng lên mấy chục triệu người.
Vì vậy, để kỷ niệm phong trào vượt biên, ngày 28/04/2009, toàn thể Hạ viện Hoa Kỳ đã thông qua nghị quyết số 342 do Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ gốc Việt Nam là Cao Quang Ánh đề xướng, ấn định ngày 02/05/2009 là «Ngày Vinh Danh Người Tỵ Nạn Việt Nam» tại Hoa Kỳ (tức thuyền nhân Việt cộng thêm những người ra đi theo chương trình ODP và HO). Sau đó, ngày 12/08/2009, Hội đồng thành phố Westminster, (thuộc Orange County, tiểu bang California ) thông qua nghị quyết số 4257, ấn định ngày Thứ Bảy cuối cùng của mỗi tháng Tư hằng năm là «Ngày Thuyền Nhân Việt Nam». Westminster là thành phố có Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, khánh thành ngày 27/04/2003, và từ đó là nơi diễn ra lễ Kỷ niệm ngày Quốc Hận hàng năm của Cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn CS.
Cả hai nghị quyết trên đây đều chọn một ngày khác với ngày 30/04 để kỷ niệm phong trào thuyền nhân, nhằm tránh làm mất ý nghĩa quan trọng của ngày Quốc Hận 30/04. Chỉ có Cộng Sản và những người làm tay sai cho CS mới cố tình vận động chuyển đổi ngày Quốc Hận 30/04 thành ngày Thuyền Nhân, nhằm làm giảm nhẹ tội lỗi của Cộng Sản Việt Nam trước lịch sử, trong khi tội lỗi của Cộng Sản đối với dân tộc Việt Nam không thể xoá bỏ được.
Mưu toan nầy hoàn toàn thất bại vì Cộng đồng Người Việt Hải ngoại quyết liệt phản đối, chỉ vì một lý do đơn giản, thật đơn giản: Ngày Quốc Hận Là Ngày Quốc Hận, không thể nào khác hơn được và không có chữ nào đúng hơn được.
Trần Gia Phụng 2012/04/03
Chủ Nhật, 8 tháng 4, 2012 by Lý Tưởng Người Việt
ftdhk8
Sau chủ trương rầm rộ của Nhà nước phát động "chiến dịch" toàn dân "Góp đá xây dựng Trường Sa" thì các em, sáu sinh viên trẻ hiếu học, gia đình nghèo quê dưới miền Tây đang thuê 3 phòng ở trọ nhà tôi cứ ấm ức đau đáu một nỗi niềm: Sao trong chiến tranh, TQ vừa giúp VN (miền Bắc) lại vừa xâm lược đảo biển VN (Hoàng Sa)? Rồi sau chiến tranh, hòa bình hữu nghị anh em láng giềng XHCN với nhau lại nảy sinh đòi hỏi tranh chấp chủ quyền tiếp tục xâm lấn Trường Sa? Bất chợt ngang nhiên tuyên bố lấy biển trời hải đảo sân nhà người ta làm cái ao nhà mình? Thường xuyên bắt giữ đánh đập phá hoại tàu thuyền, tịch thu tài sản ngư cụ của bà con ngư dân chúng ta đang sinh sống bằng con tôm, con cá từ ngàn đời trên biển đảo của tổ tiên mình mà hơn ba bốn thập niên trước thì không hề có tranh chấp này? Mà nhà cầm quyền CSVN thì chỉ khép nép "ho hen" chiếu lệ? Nhưng khi người dân Việt Nam bức xúc, yêu nước, phản ứng trong ôn hòa chống lại hành vi rất đáng gọi là "thế lực thù địch" ngoại xâm ấy thì lại bị nhà cầm quyền VN cấm đoán, xử sự với ác cảm ngược lại, coi như là "thế lực thù địch" trong nước của chính mình!?

Các em cứ tự vấn, tại sao lại ngược đời như vậy!? Cận cảnh tưởng như dễ hiểu với mọi người nhưng hoá ra lại là viễn cảnh rất khó hiểu của Đảng và Nhà nước trả lời cho nhân dân nên câu hỏi cứ lững lơ với các em cũng như với khá nhiều bạn trẻ sinh ra trưởng thành sau 1975 để cho tôi biết có một khoảng trống nhạt nhòa tối, sáng, không định hình trong tri thức của các em liên quan đến chuyện thời sự "nhạy cảm" nóng, lạnh bất thường này của các vị lãnh đạo đất nước với láng giềng "đồng chí bạn vàng" TQ? Mà nguyên nhân suy cho cùng, một phần từ sự giáo dục nó cũng "nóng lạnh" bất thường theo khuynh hướng chính trị xu thời, định hướng từng giai đoạn vì quyền lợi sống còn của Đảng CSVN chứ không vì quyền lợi dân tộc. Mà trong một hệ thống độc tài toàn trị tuyệt đối như thế thì giáo dục cũng không thể nằm ngoài cái quỹ đạo có đường đi thất thường hay trái qui luật và ngược với lòng người này.
Khi rỗi rảnh, đọc ké sách báo nhà tôi, chạm vấn đề biển đảo thấy tôi vui các em sinh viên cứ hay hỏi tôi hoài về chuyện này, tôi chỉ cười nói: Con người ta hình như ai cũng có cái định mệnh của số phần, đất nước mình chắc cũng vậy. Nếu dân tộc Việt Nam may mắn như Hàn Quốc, Đài Loan hay Singapore có được những người lãnh đạo yêu nước thương dân, đặt quyền lợi tổ quốc nhân dân lên trên quyền lợi đảng phái cá nhân thì mấy em và đồng bào chúng ta đã không có những ưu tư trăn trở, bà con ngư dân không đổ máu, rơi lệ, tan nát tàu thuyền vì TQ trên biển đảo của quốc gia mình như ngày hôm nay. Nhưng đau đớn là sự không may ấy lại do chính người Việt Nam mình thiển cận không sáng suốt gây ra chứ không do thần linh hay quyền lực siêu nhiên nào biến hóa thù hằn đày đọa. Có vài em sinh viên, khoa "xã hội nhân văn" hình như cũng "nhạy cảm" chính trị cứ đeo theo tôi mong phân tích cho rõ ngọn nguồn mà tôi thì cứ hẹn hoài bởi cần những dẫn chứng thực tế rõ ràng diễn giải cho các em, những trí thức trẻ biết được có một giai đoạn mà dân tộc (đúng hơn là Chính phủ VNCH miền Nam) phải buông tay không thể nắm lại được. Nhưng nếu "may mắn" hay người CSVN "khôn ngoan" hơn thì Hoàng Sa-Trường Sa và Biển Đông không đến nỗi phải "rối" như nồi canh hẹ và ngư dân chúng ta, không phải chịu cảnh bị Trung Quốc cứ bắt nạt, đe dọa không thấy điểm dừng như hiện nay.
Những ngày này – Tháng 4, như vết thương cũ râm ran đau khi gió trở trời, phía Nam vĩ tuyến 17 nhiều triệu người dân Việt lại nhói đau từ vết thương lòng mãi vẫn như chưa chịu liền da, lại như mưng mủ khi hơn một tháng qua (ngày 29/2/12), quân đội TQ lại bắt giam giữ hai tàu cá và 21 ngư dân xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) trên đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa), đến nay phía Trung Quốc đòi người nhà các ngư dân phải nộp 70.000 nhân dân tệ (NDT) cho mỗi người mới thả về. Nếu vào năm 2010, Trung Quốc bắt tàu cá ngư dân VN liên tục bị truyền thông quốc tế lên án thì đến 2011, Trung Quốc không bắt nữa mà chuyển qua đập phá thuyền, cướp tài sản ngư dân. Ngờ đâu, qua đầu năm 2012 này, phía Trung Quốc không chỉ đập phá tài sản mà còn bắt giam tàu thuyền và ngư dân đòi tiền phạt,… "Cứ hết bị đập phá tài sản, lại chuyển sang giam người, giữ tàu đòi tiền phạt như "hải tặc". Sức đâu, tiền đâu để làm ăn nữa!" – nhiều ngư dân than thở…
Ông Vinh (ngư dân) nói, tàu cá của ông bị phía Trung Quốc cướp tài sản, đập phá nhiều lần. Còn nếu bị bắt giam thì đây là lần thứ ba. Hai lần trước vào tháng 8/2003 và tháng 2/2009, tàu bị giam ở đảo Phú Lâm và đảo Hải Nam. Mỗi lần như thế, phía Trung Quốc bắt nộp 50.000 NDT. Lôi từ trong tủ ra hàng loạt giấy tờ nộp tiền phạt khi tàu bị Trung Quốc bắt, ông Vinh kể: "Sau khi nộp phạt, lúc được thả ra, phía Trung Quốc chỉ chừa lại chút ít lương thực, dầu máy, còn bao nhiêu hải sản đánh bắt được của tàu đều bị người Trung Quốc trên đảo cướp sạch, thậm chí bột ngọt, muối, nước mắm cũng bị lấy hết". (SGTT Oline)
"…VUI SAO… NƯỚC MẮT LẠI TRÀO ??…"
Hoài niệm một thoáng quá khứ chính xác và rõ như ban ngày. Tàn cuộc thế chiến đệ II, cả thế giới mừng vui giã từ vũ khí hối hả xây dựng lại quê hương, cuộc sống trong điêu tàn đổ nát, cố hàn gắn những vết thương đạn bom thì chỉ duy nhất trên thế giới, tại Việt Nam, ông Hồ Chí Minh và các môn đồ cộng sản của ông khởi sự gây chiến tranh đẫm máu, nước mắt với chính dân tộc, đồng bào, ngay trên Tổ quốc ông, kéo dài hơn 20 năm kết thúc bằng một cái gọi là "đại thắng mùa xuân" 30/4/1975. Họ, những người CS, nhảy múa ca khúc khải hoàn trên tử thi của gần 5. 000.000 (năm triệu) địch quân "máu đỏ da vàng" nói tiếng Việt Nam cùng chủng tộc với họ trong đó có hơn 1.000. 000 (một triệu) binh sĩ trọn một thế hệ trai gái thanh niên miền Bắc đã nằm xuống… Trong khúc "khải hoàn ca" ấy toàn dân nghe câu hát "Vui sao… Nước mắt lại trào",… và nó cứ trào ngược đến mãi tận hôm nay 30/4/2012 trong cay đắng bởi lịch sử bốn ngàn năm lập quốc, một ngàn năm bị đô hộ "giặc Tàu" mạnh yếu, thắng thua có lúc nhưng khi thu hồi độc lập ông cha ta chưa bao giờ nhượng một tấc đất nào cho quân thù từ phương Bắc thì ngần ấy máu xương và quỹ thời gian vàng ngọc của cả dân tộc những người CSVN đã mang ra đánh đổi lấy lại một đất nước nhược tiểu mà cương thổ quốc gia không còn lành lặn đầy đủ như xưa?
(Theo Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh – Nguyên Ðại Sứ Việt Nam tại Trung Quốc (1974-1989) thì: "Trong đàm phán biên giới, họ (Trung Quốc) ép ta làm ta mất một nửa thác Bản Giốc, dân ta cũng không được đặt chân đến Ải Nam Quan nữa. Tất cả ta mất hàng trăm km2 đất nơi này. Một tọa độ điểm cao quan trọng khác là núi Lão Sơn, phía Việt Nam gọi là Núi Đất mà theo ông Lê Công Phụng – Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Hoa Kỳ, nguyên Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại Giao, Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ về biên giới, lãnh thổ với Trung Quốc trả lời báo Văn Hóa ngày 23/9/2008, khi ký Hiệp Ước Biên Giới Trên Đất Liền năm 1999, CSVN đã nhượng luôn cho TQ với lý do họ đã xây công sự (nghĩa trang…) (!?) trên đó rồi? Dân ta nói đất ta dọc đường Biên Giới mất vào tay Trung Quốc một diện tích bằng khoảng "một tỉnh Thái Bình" (1. 542 km²)
Có điều mỉa mai, lãnh thổ miền Nam do Chính phủ VNCH quản lý mà CS Bắc Việt hay gọi là "Ngụy quyền tay sai bán nước" khi họ chiếm được lại toàn vẹn lãnh thổ không mất một m2 đất nào?
Nhưng nỗi đau "Vui sao nước mắt cứ trào" là hôm nay, quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa và Biển Đông, phên dậu ngàn đời, nơi nguồn sống của cả dân tộc VN giờ thì bị TQ xâm lược, áp bức đe dọa ngư dân triền miên mà Nhà nước và Đảng CSVN thì bó gối ngồi nhìn? Lực bất tòng tâm.
Người ta nói: "Một bác sĩ dù uyên bác nhưng chỉ một sự nhầm lẫn do cực đoan hay bảo thủ trong phác đồ trị liệu có thể giết chết một hoặc vài bệnh nhân nhưng một lãnh tụ nắm vận mệnh quốc gia phạm sai lầm tương tự có thể giết chết rất nhiều người, đôi khi đưa cả quốc gia vào vòng nhược tiểu với nhiều vấn nạn theo sau". Điều này có lẽ đúng với ông Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản của ông. Tình trạng đối diện tranh chấp Hoàng Sa -Trường Sa và Biển Đông bằng vị thế hèn mọn như kẻ dưới ngựa của những người CSVN với TQ hôm nay là di lụy bởi một chủ nghĩa lai căng, huyễn hoặc của những kẻ ngu muội nhưng cuồng tín và độc tài trong một tầm nhìn ấu trĩ, sai lầm của phường "giá áo túi cơm" (gần đúng với lời PCT. TQ Tập Cận Bình mới đây ám chỉ đa số quan chức CS TQ thời nay).
Có một giả thiết (Assumption) rất khó chấp nhận với người CSVN tại thời điểm ấy nhưng đã là giả thiết thì vẫn có % dù rất thấp của hiện thực!?: "Chúng ta cứ thử "ví dụ" điều hãn hữu đó là có thực do hồn thiêng sông núi hiển linh từ 18 đời vua Hùng mách bảo (!?) để có một giây phút mà những người CSVN chùng lòng xót xa nghĩ tới máu xương dân tộc đẫm ướt cơ đồ…mà…"
Sau tổng tấn công tết Mậu Thân 1968, thiệt hại nặng nề trên toàn miền Nam, hy sinh hơn 100.000 ngàn quân (tương đương 12 sư đoàn). Sang năm sau 1969, ông Hồ Chí Minh lìa đời, những người lãnh đạo CSVN chợt loé ra một vầng sáng từ chân lý của ông Hồ để lại: "Nước Việt Nam là một, dân tộc VN là một, sông có thể cạn núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi" và đã là chân lý thì bất di bất dịch, bây giờ chưa thống nhất được thì năm, mười, hai mươi năm sau cũng không muộn, đất nước còn nghèo, nhân dân đói khổ, tạm thời dừng lại kế hoạch "giải phóng miền Nam" bằng chiến tranh, dành mọi "tầm cao trí tuệ" của Đảng làm người xiếc đi dây, lúc nghiêng bên Nga, lúc ngã bên Tàu để móc túi viện trợ Nga, Tàu mà xây dựng XHCN miền Bắc cho hùng mạnh như các "đồng chí" CS Đông Âu rồi thống nhất đất nước sau! Vẫn là chân lý và bộ Chính trị CSVN cùng đồng tâm nhất trí cao, tạm dừng cuộc chiến – Nếu ba miền dân tộc Việt có phúc đức hân hạnh được như thế, tại thời điểm đó thì chuyện gì sẽ xảy ra?
Những gì lớn lao thuộc phạm trù có thể hay có lẽ cho cả dân tộc không dám lạm bàn nhưng lãnh thổ và nhất là Hoàng Sa – Trường Sa cùng Biển Đông không ở tình thế thất thoát "bi đát" và phần còn lại của Trường Sa phải phòng thủ như mành treo chuông hiện nay. Bởi "Việt Cộng" không chiếm miền Nam thì TQ không tiếp cận Khmer đỏ, có nghĩa CSVN không phải "tình nguyện sang Campuchia làm nghĩa vụ"!? (hy sinh đến 50.000 quân) và nếu CSVN không tràn qua Campuchia thì TQ không "nóng mặt" để có lý do tràn qua biên giới 2 lần dạy cho VN "một bài học" thì cột mốc dọc biên giới và Ải Nam Quan (Hữu nghị quan) không bị TQ dời đi, phía Bắc VN không mất khoảng 1.542 km² và đau đớn với hàng trăm ngàn binh sĩ và người dân không đáng phải bỏ mạng hy sinh.
Còn Hoàng Sa -Trường Sa vẫn nằm chắc chắn trong tay Chính phủ VNCH do QLVNCH trấn giữ (năm 1956, Pháp bàn giao) có sự phòng thủ hỗ tương từ đơn vị tiền phương Hải quân Mỹ tại vịnh Cam Ranh và sự yểm trợ tuần tra giám sát an ninh biển trên toàn vùng Biển Đông của Hạm đội 7 Thái Bình Dương Mỹ, bản doanh đóng tại vịnh SuBic Phillipnes đối diện VN. Từ năm 1973, chính phủ VNCH cũng đã tổ chức 2 vòng đấu thầu khai thác mỏ dầu ngoài khơi thềm lục địa. Nhiều công ty khai thác dầu lửa nước ngoài đã tham gia, bất chấp là tình hình an ninh chưa ổn định. Chính phủ VNCH cấp giấy phép cho sáu tổ hợp công ty dầu lửa được khai thác 13 địa điểm trong một khu vực 82.000 km² (mới chỉ là 16% của thềm lục địa). Tới tháng 10/1974, hãng Mobil (Hoa Kỳ) khoan mỏ Bạch Hổ tại lô 04-TLD, ngoài khơi Vũng Tàu tìm được dầu dưới độ sâu trên 2,7 km. Ước tính là vào cuối 1975, sẽ có ít nhất 20 giàn khoan, sản xuất một lượng dầu khả quan sắp được bắt đầu, muộn lắm là vào cuối năm 1977. (Năm 1975, các mỏ dầu này do Liên doanh Vietsopetro Việt Nam – Nga quản lý và khai thác) (Wikipedia). Và như vậy để bảo đảm quyền lợi cho nhà đầu tư Hoa Kỳ khai thác dầu trên vùng biển VN thì hải quân Mỹ còn tăng cường hơn nữa để bảo vệ toàn vùng Biển Trời của Biển Đông trong chiến lược kinh tế quân sự Đông Nam và Châu Á của mình mà lực lượng hải quân TQ (thập niên70-80) có muốn đương đầu cũng không thể so sánh nổi với hạm đội 7 hải quân Mỹ đang đặt bản doanh tại Phillipine trực diện tham chiến tại VN khống chế toàn Biển Đông. Có chăng hải quân TQ cũng chỉ quanh quẩn quanh đảo Hải Nam của mình chứ hoàn toàn không có cơ hội tràn xuống biển Đông cướp đoạt Hoàng Sa trong tay hải quân QL.VNCH năm 1974 và lại càng không thể tiến xuống Trường Sa để ngang ngược đưa ra cái lưỡi "con bò điên" hình chữ U trên toàn vùng biển Đông như hiện nay!
alt
Asean và Biển Đông (Xaluan. com)
alt
Hoàng Sa & Trường Sa (Ảnh nguoivietquocgia)
alt
Quân Pháp – Việt chào cờ trên đảo Hoàng Sa. (1945) Ảnh chụp tại phòng lưu trữ tư liệu Hoàng Sa, Đà Nẵng – Ảnh: V. Hùng chụp lại
alt
Ngọn hải đăng và lá Quốc Kỳ (tam tài) Pháp ở quần đảo Hoàng Sa 1945
alt
Bia chủ quyền Việt Nam trên đảo Hoàng sa thời kỳ Pháp thuộc(1945)
alt
Trụ sở hành chính của Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trên quần đảo Hoàng Sa trước năm 1974
alt
Bia chủ quyền mang hình ảnh quốc kỳ chính phủ "Việt Nam Cộng Hòa" dựng trên đảo Trường Sa trong quần đảo Trường Sa (1961)
alt
Không ảnh đảo Hoàng Sa với cơ sở quân sự, khí tượng của CP "Việt NamCộng Hòa" (chụp năm 1968)
alt
Trên Sân thượng toà nhà Ty khí tượng của Việt Nam Cộng Hòa tại đảo Hoàng Sa (Pattle Island, Shanhu Dao) (chụp năm 1969)
alt
Bia chủ quyền Việt Nam Cộng Hòa ghi: "Quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy, Phái bộ quân sự thị sát nghiên cứu đến viếng quần đảo này ngày 22 tháng 8 năm 1956 được sự hướng dẫn của Hải Quân Việt Nam."
alt
Đây là cột mốc chủ quyền của đảo Nam Yết – là thủ phủ của quần đảo Trường Sa, dưới sự Trấn Giữ quản lý chủ quyền của những chiến sĩ Hải quân QLVN/CH trước 1975. Bia cũng ghi một nội dung: " Quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy, Phái bộ quân sự thị sát nghiên cứu đến viếng quần đảo này ngày 22 tháng 8 năm 1956 được sự hướng dẫn của Hải Quân Việt Nam"
alt
- Đây là hình ảnh cuối cùng của QLVNCH tại đảo Trường Sa, những hầm hào công sự phòng thủ quân sự chuẩn bị đối phó với quân TQ sau sự kiện TQ xâm lược đảo Hoàng Sa, hiện trường để lại cho quân đội CS BắcViệt sau 30/4/1975
HÌNH ẢNH ĐƠN VỊ HẢI QUÂN TIỀN PHƯƠNG CỦA HẠM ĐỘI 7 THÁI BÌNH DƯƠNG MỸ TẠI QUÂN CẢNG CAM RANH TRƯỚC 1975

( Cam Ranh Bay VN Pictures-1968/1969) (Wikipedia)

alt
Logo một đơn vị Không Quân Hoa Kỳ tại Cam Ranh
alt
Chào mừng bạn đến Đoàn Không Vận 483 chiến thuật – Hoa Kỳ-1969, Đồn Trú tại Cam Ranh Bay
alt
Căn Cứ hải quân tiền phương của hạm đội 7 hải quân Mỹ tại Cam Ranh (1968)Hai đường băng, liên kết 02-20, cho phi cơ quân sự. Đây là căn cứ xuất phát tàu tuần duyên phối hợp liên quân hải quân Việt Mỹ tuần tra lãnh hãi và Biển Đảo VNCH (Cam Ranh Bay Air Force Base)
alt
Quân Cảng Cam Ranh
alt
Căn cứ đơn vị Tiền Phương Hải Quân Mỹ trực thuộc Hạm Đội 7 Thái Bình Dương tại Quân cảng Cam Ranh thời chiến tranh Việt Nam
alt
Máy bay F4 "Phantom" Không Quân Mỹ tại Cam Ranh Bay
alt
Khu trục oanh tạc A-1H "Skyraider " hải quân Mỹ tại CamRanh Bay 1968 .
alt
Phi cơ hải quân Mỹ tại Căn cứ quân sự Cam Ranh tháng 9 năm 1968 .
alt
C-141A (trái) và C-5A (bên phải) chụp từ dưới cánh của một máy bay Caribou. Hai loại máy bay vận tải mới, hiện đại tại thời điểm đó, làm nhiệm vụ tại Cam Ranh Bay Việt Nam. (1968)
alt
Nhà ga kho hàng và nhân viên quân sự Mỹ phía Tây của Cam Ranh Bay.

***

HẠM ĐỘI 7 THÁI BÌNH DƯƠNG- HẢI QUÂN HOA KỲ – SUBIC BAY- LUZON – PHILLIPINES .

alt
alt
Soái Hạm hàng không USS Enterprise Hạm đội 7 Mỹ
alt
Căn cứ hải quân Hoa Kỳ tại Subic Bay, Philippines Luzon.
alt
Căn cứ Hạm Đội 7 và sân bay HQ/Mỹ nhìn từ trên cao Subic Bay, Luzon Philippines 
alt
Chú thích: Tuần dương Hạm tên lửa hướng dẫn hạt nhân USS Bainbridge (CGN-25) ở phía trước. Ở bên trái là tàu chở dầu USNS HASSAYAMPA (T-AO-145), tàu tuần dương tên lửa dẫn đường USS STERETT (CG-31), các tàu khu trục tên lửa dẫn đường USS Henry B. WILSON (DDG-7) và tàu tuần dương tên lửa dẫn đường USS WILLIAM H. STANDLEY (CG-32). tại hải quân STATION, Subic Bay, Philippines Luzon.
alt
Tàu sân bay hạt nhân USS Enterprise phía trước. Các khu trục hộ tống phía sau 
neo đậu ở căn cứ hải quân Subic Bay, Philippines- Luzon
alt
Tàu khu trục USS Elliot (DD-967), tàu khu trục tên lửa dẫn đường USS Ramsey (FFG-2), 
và các tàu tấn công đổ bộ USS Bellau Wood (LHA-3) tại Subic Bay
alt
Tàu sân bay USS Enterprise trước đây ký hiệu là CVA(N)-65, chạy bằng năng lượng hạt nhân đầu tiên trên thế giớithuộc Hạm Đội 7 tại Subic Bay, Philippines 
alt
Tàu ngầm tên lửa liên lục địa Polaris – Hạm Đội 7 Thái Bình Dương Hoa Kỳ
alt
Chú thích: Phía trước, tuần dương hạm năng lượng hạt nhân tên lửa điều khiển USS Bainbridge (CGN-25) với Ba tàu ngầm, bao gồm cả các tàu ngầm tấn công hạt nhân USS cá tuyết (chấm đen) SSN-621, Bốn tàu ở phía bên kia từ phải sang trái: Tuần dương tên lửa điều khiển USS WILLIAM H. STANDLEY (CG-32), các tàu khu trục tên lửa dẫn đường USS Henry B. WILSON (DDG-7), các tàu tuần dương tên lửa dẫn đường USS STERETT (CG-31) và tàu chở dầu USNS HASSAYAMPA (T-AO-145). Cập cảng STATION of USNAVY Subic Bay, Luzon Philippines (1970- PHL) 
alt
Kho Bom của Hạm Đội 7 Thái Bình Dương tại căn cứ Subic philippines
alt
Ngày 10/11/2011-Mỹ đã 'lặng lẽ' đưa một tàu ngầm tấn công hạt nhân lớp Virginia, chiếc USS Texas (SSN 775) với tàu ngầm hộ tống USS Emory (AS 39) tới vịnh Subic ở Philippines - Tàu ngầm tấn công Texas, thuộc lớp Virginia được đánh giá là một trong những lớp tàu ngầm chạy êm nhất, hiện đại nhất của quân đội Mỹ và trên thế giới. Trang bị 12 tên lửa hành trình Tomahawk và 4 ống phóng ngư lôi 533 mm.  Tàu có khả năng hỗ trợ hàng loạt các nhiệm vụ, tác chiến chống tàu ngầm, chống tàu mặt nước, tấn công vào đất liền, tình báo, trinh sát và giám sát, tham gia các cuộc chiến tranh đột xuất và có thể hoạt động ở vùng nước nông. (Navy Recognition)
***
Không như những "Thái thượng hoàng" CSVN đang rung đùi an toạ tuổi già trong những villa, biệt thự tiện nghi, tâm đắc với châm ngôn "Đúng sai, sống chết mặc chúng mày, thành quả cướp được của trẫm thì trẫm cứ thụ hưởng." Những người CSVN hôm nay nhìn Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan để cay đắng nhận diện ra rằng không phải những người lính Mỹ mà chính "đồng chí" cật ruột láng giềng "4 tốt 16 vàng" mới là kẻ khẩu phật tâm xà, vừa ăn cướp lãnh thổ, biển trời, đất đai, hải đảo của tổ tiên mình, vừa la làng. Việc dùng hàng núi xương sông máu dân Việt Nam làm chảy máu những người lính Mỹ để họ nản chí rút lui là một sai lầm, nó giống như cố đuổi con mèo Mỹ cửa trước để rước đàn chuột cống TQ cửa sau, lợi bất cập hại để bây giờ những người CSVN bó gối nhìn ra cái lưỡi chữ U "con bò điên" TQ trên Biển Đông mà nan giải đến nát lòng?
Không biết lúc này các "Thái thượng hoàng" CSVN và những người CS có biết "mắc cỡ" không với cái khẩu hiệu nằm lòng một thời như câu kinh nhật tụng mà đảng dạy cho dân: " Nơi nào có gót giày lính Mỹ thì nơi đó là thuộc địa, tay sai, cho thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ." Nhưng đảng ta thì cứ khuyến khích nhà nước "xuất khẩu" càng nhiều càng tốt dân mình qua Nhât, Hàn, Đài Loan làm osin, làm vợ, làm "trâu bò" cho "thuộc địa thực dân kiểu mới đế quốc Mỹ" và cũng tha thiết hân hoan xin làm con nợ của các "thuộc địa" này!
Mới đây, ngài TBT. Đảng Cộng sản VN Nguyễn Phú Trọng "lên giây cót" cho nhân dân với lời phát biểu "Chúng ta phải tự hào hãnh diện với những thành tựu "to lớn" của đất nước mà đảng, nhà nước và nhân dân ta đã đạt được trong thời gian qua…": Lạm phát (19%) – top 4 thế giới – nhất ASEAN, dự trữ ngoại tệ 12 tỷ USD (các nước tư bản ASEAN bình quân 250 tỷ USD), chỉ số tham nhũng (CPI) Việt Nam hạng 116/178 (nặng) – Con tàu Vinashin chở hơn 4 tỷ USD chìm nghỉm giữa đại dương tham nhũng nhưng xét thấy: "chưa đến mức kỷ luật tập thể hay cá nhân nào"? (Bộ chính trị Đảng Cộng sản VN), thu nhập bình quân đầu người Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore (of Bank world 2012) – Tháng 1 và 2-2012, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo xuất kho hơn 29.481 tấn gạo cho 18 tỉnh để cứu đói nhân dân dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt năm 2012. Ngày 29/2/12 quân đội TQ bắt giam giữ hai tàu cá và 21 ngư dân VN ở biển Hoàng Sa đòi nộp 70. 000 NDT/người dù VN có "lá bùa" (4 tốt + 16 vàng) cũng không ngoại lệ!? Chính Phủ Myanmar mở toang cửa nhà tù, phóng thích, trả tự do cho 14.758 tù nhân, trong đó có hơn 200 tù chính trị quan trọng, tu sĩ tôn giáo, sinh viên lãnh đạo biểu tình, kể cả cựu Thủ tướng Khin Nyunt (bị bắt giam năm 2004). Nhà nước Việt Nam cũng sắp mở toang cửa nhà tù… để đưa ra pháp đình xét xử những người dân nói và làm ngược với ý đảng và nhà nước: Điếu Cày (anh Nguyễn Văn Hải), Anh Ba Sài Gòn (anh Phan Thanh Hải), Tạ Phong Tần, Đoàn Văn Vươn… v.v… dự kiến sẽ diễn ra sắp tới đây…
Thành tựu quá lớn để người dân cười rơi lệ: "37 NĂM – VUI SAO NƯỚC MẮT CỨ RÀN RỤA TRÀO!?… "
HOÀNG THANH TRÚC
Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2012 by Lý Tưởng Người Việt
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền   
GvnhamletQuốc Sách Ấp Chiến Lược là tách rời du kích quân sự cộng sản ra khỏi nhân dân nông thôn, không cho chúng bám dựa vào nhân dân để xây dựng cơ sở và hoạt động phá hoại, cuối cùng là cô lập hoàn toàn để chúng phải chọn lựa, một là ra hồi chánh, hai là bị tiêu diệt.
Khi nói đến Ấp Chiến Lược, thì chỉ những người đã từng sống ở trong các vòng đai của Ấp Chiến Lược vào thời kỳ đầu của nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa; NHƯNG, phải có một lương tâm trong sáng, một tấm lòng chân thành, thì họ mới viết lại những gì mà họ đã chứng kiến một cách trung thực.
Vậy, để lớp trẻ sau này, còn biết đến một công trình của người đi trước đã dày công xây dựng; bởi vậy, nên người viết xin phép tác giả Nguyễn Đức Cung để được trích đoạn trong bài:
"Từ Ấp Chiến Lược đến biến cố Tết Mậu Thân, những hệ lụy trong chiến tranh Việt Nam" như sau:
1.2. Khu trù mật và Ấp chiến lược.
Trước khi nói đến các cơ cấu trên đây, thiết tưởng cần nhắc đến chính sách Dinh Diền được tổ chức trước đó để thấy rằng các nhà lãnh đạo của nền Đệ Nhất Cộng hòa đã có một cái nhìn xuyên suốt trong Chính Sách An Dân của mình.

Ngày 17.9.1954, Thủ tướng Ngô Đình Diệm ký nghị định số 928-NV thành lập Phủ Tổng Ủy Di Cư Tị Nạn, ngang hàng với một bộ trong Nội các, do ông Ngô Ngọc Đối làm Tổng Ủy Trưởng. Bên cạnh đó, vì số người Công Giáo di cư gần khoảng 70% trên tổng số tị nạn nên có một tổ chức cứu trợ tư nhân với tên Ủy Ban Hỗ Trợ Định Cư do Giám mục Phạm Ngọc Chi điều khiển. Tổng số dân rời bỏ miền Bắc để vào miền Nam là 875, 478 người và họ được đưa đến Sài Gòn, Vũng Tàu hay Nha Trang, sau đó đi định cư các nơi khác tùy ý họ lựa chọn.
Nói chung đối với hầu hết các cơ chế được tổ chức dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa và một khi đã bị giải thể, hay bị chính quyền kế tiếp coi như là một thứ con ghẻ không hề lưu tâm tới (trong thời Đệ nhị Cộng Hòa) tất nhiên sự kiện đó đã góp thêm rất nhiều yếu tố thuận lợi cho biến cố Tết Mậu Thân, mà rõ ràng nhất là hệ thống khu trù mật và ấp chiến lược được tổ chức và nâng lên thành quốc sách dưới thời Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
Ngày nay ai cũng biết hệ thống tổ chức Khu trù mật và Ấp chiến lược là sáng kiến rất đỗi lợi hại của Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu, nhờ đó mà bọn du kích Cộng Sản đã một thời khốn đốn không hoạt động được gì hữu hiệu. Thật ra việc gom dân lập ấp là một kinh nghiệm lịch sử quý báu của tiền nhân trong lúc đất nước có chiến tranh. Người có sáng kiến tiên khởi về ấp chiến lược có lẽ phải kể đến Tỉnh Man Tiểu Phủ Sứ Nguyễn Tấn (1820-1871), tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1863, Nguyễn Tấn đã áp dụng kế sách đó trong việc đánh dẹp người Mọi Đá Vách, Quảng Ngãi. Một sử liệu của Triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, đã ghi lại như sau:
"Mới đặt chức Tiểu phủ sứ ở cơ Tỉnh man tỉnh Quảng Ngãi. Phàm các việc quan hệ đến sự phòng giữ dẹp giặc, thăng cử, chọn thải, lấy lương, gọi lính sát hạch, thì cùng bàn với chánh phó lãnh binh chuyên coi một nha mà tâu hoặc tư. Lấy người hạt ấy là Nguyễn Tấn lãnh chức ấy. Tấn trước đây thứ án sát Thái Nguyên, khi ấy quân thứ Thái Nguyên dần yên, nghe tin bọn ác man hung hăng, dâng sớ xin về bàn bạc để làm, trong 1, 2 năm có thể xong. Vua thấy giặc Man có phần cần cấp hơn, bèn y cho. Đến đây, chuẩn cho thăng hàm thị độc sung lãnh chức ấy, cấp cho ấn quan phòng bằng ngà. Tấn dâng bày phương lược: (nói: việc đánh giặc vỗ dân cần làm những việc khẩn cấp trước. Về 3 huyện mạn thượng du, phàm những dân ở linh tinh, tiếp gần với địa phận núi thì, tham chước theo lệ của Lạng Sơn đoàn kết các dân ở cõi ven một hay hai khu, đều đào hào đắp lũy, cổng ngõ cho bền vững. Nếu có lấn vào ruộng đất của ai thì trừ thiếu cho. Còn 1, 2 nhà nghèo, ở riêng một nơi hẻo lánh, thì khuyên người giàu quyên cấp cho dỡ nhà dời về trong khu; còn đất ở thì không cứ là đất công hay đất tư đều cho làm nhà để ở. Các viên phủ huyện phụ làm việc ấy, liệu nơi nào hơi đông người thì bắt đầu làm ngay, nơi nào điêu háo (ít dân), thì phái quân đến phòng giữ, ngăn chận, dần dần tiếp tục làm, để thử sức dân." [9]

Thành phố đổ nát

 Cách đây hơn nửa thế kỷ, chế độ Cộng Hòa đã được khai sinh cùng với các quốc sách được ban hành như Khu trù mật và Ấp chiến lược, nhằm giải quyết cho công cuộc định cư của gần một triệu đồng bào từ bắc di cư vào Nam, và sau đó, để đối phó với chính sách khủng bố của du kích Cộng sản tái hoạt động ở các vùng nông thôn miền Nam.
Trong cuốn sách Chính sách cải cách ruộng đất Việt-Nam (1954-1994), tác giả Lâm Thanh Liêm đã viết về Khu trù mật như sau: "Khu Trù Mật là một cộng đồng nông nghiệp được chính quyền thành lập và gom thôn dân vào đấy sinh sống vì ở trong những thôn xóm hẻo lánh, xa cách các trục giao thông, do đó, chính phủ không thể kiểm soát được. Trước sự đe dọa của chiến tranh xâm lược Miền Bắc, Tổng Thống Diệm quyết định tập trung thôn dân sinh sống rải rác vào Khu Trù Mật, để tiện bề kiểm soát họ, đồng thời cô lập họ với "Việt Cộng", giống như cá thiếu nước không thể sống tồn tại được. Mỗi Khu Trù Mật có khoảng 3.000 đến 3.500 dân, có hạ tằng cơ sở giống tựa như trường hợp của một thành phố:
* Một khu thương nghiệp (với một ngôi chợ xây cất bằng gạch và tiệm buôn bán).
* Một khu hành chánh (có một chi nhánh bưu điện), xã hội (một Bảo sanh viện, một nhà trẻ) và văn hóa (các trường tiểu học và trung học cấp I, một phòng thông tin, nhà thờ và chùa chiền).
Các Khu Trù Mật được điện khí hóa. Vị trí của chúng được chọn lựa kỹ lưỡng, hội đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển (đất đai trù phú, gần các trục giao thông).
* Khu Trù Mật có thể phát triển nông nghiệp, diện tích đất trồng có thể được nới rộng nhờ khẩn hoang thêm đất màu mỡ, để trong tương lai, các thế hệ trẻ tấn lên trở thành điền chủ.
* Khu Trù Mật có thể phát triển thương nghiệp và các lãnh vực dịch vụ khác, cùng phát triển các tiểu thủ công nghệ liên hệ với ngành nông nghiệp địa phương.
* Nhờ Khu Trù Mật, chính quyền có thể cải thiện điều kiện sinh sống của thôn dân: cư trú tập trung cho phép chính phủ thực hiện nhiều công trình phục vụ nhân dân, ít đòi hỏi nhiều đầu tư hơn hình thức cư trú lẻ tẻ, rải rác (chẳng hạn như công tác thủy nông, điện khí hóa, xây cất trường học, nhà bảo sanh v.v...)
Khu Trù Mật là nơi bảo vệ dân chúng chống lại chiến tranh xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt. Ngoài việc kiểm soát dân chúng trong Khu Trù Mật, chính quyền địa phương còn trang bị vũ khí cần thiết, để nếu cần, có thể biến Khu Trù Mật thành một "tiền đồn", ngăn chặn đoàn quân Bắc Việt xâm nhập vào Nam.

Bởi vậy các Khu Trù Mật thường được thiết lập tại các địa điểm có tính cách chiến lược, dọc theo biên giới hoặc xung quanh một thành phố lớn, để tạo một vành đai an ninh. Đồng thời Khu Trù Mật cũng là thị trường tiêu thụ các nông sản và các chế phẩm tiểu thủ công nghiệp. Chính phủ cấp phát cho mỗi gia đình định cư một mảnh đất 3.000 m 2, để xây cất một ngôi nhà (với vật liệu do chính quyền địa phương cung cấp), một chuồng heo và một chuồng gà. Mỗi gia đình có một mảnh vườn cây ăn trái hoặc một mảnh vườn rau để tự túc mưu sinh."
Sử gia Robert Scigliano, thuộc viện đại học Michigan, cho biết Cộng Sản Hà Nội tuyên truyền phản đối chính sách Khu trù mật vì ngoài việc ngăn chặn Cộng Sản xâm nhập vào nông thôn, các Khu trù mật được xây dựng ở những vùng chiến lược chẳng hạn dọc theo một con đường chính hay một trục thủy lộ gây trở ngại rất nhiều cho việc chuyển quân của Cộng Sản".
Và kế đến, người viết cũng xin phép tác giả Trần An Phương Nam: Gia đình CB/XDNT Bắc Cali, để cũng được trích đoạn trong bài:
"Từ quốc sách Ấp Chiến Lược đến chương trình Xây dựng Nông Thôn" như sau:
"Khi thành lập công cụ xâm lược mang tên Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam" (MTGPMN) vào tháng 12 năm 1960. Cộng Sản Hà Nội quyết tâm thực hiện giai đoạn khởi đầu trong sách lược thôn tính miền Nam qua mặt trận du kích chiến, trọng tâm của mặt trận này là "lấy nông thôn bao vây thành thị" nói cách khác là chúng muốn kiểm soát địa bàn nông thôn, tranh thủ nhân tâm người dân nông thôn để lợi dụng lòng yêu nước của họ ngõ hầu buộc họ phải cộng tác, nuôi dưỡng, che chở cho du kích quân cộng sản. Kế tiếp là chúng sẽ dùng nông thôn làm bàn đạp để tấn công, tiến chiếm các thành phố để cướp chính quyền. Thoạt tiên kế hoạch xâm lược miền Nam của cộng sản Hà Nội là như vậy, chúng mong muốn thôn tính miền Nam chỉ cần sử dụng mặt trận du kích chiến mà thôi, không cần sử dụng đến các mặt trận khác như trận địa chiến hay vận động chiến v.v...
Nắm vững được sách lược của địch. Chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành Quốc Sách Ấp Chiến Lược, đây quả là một đối sách đúng đắn và vô cùng lợi hại của chính quyền lúc bấy giờ, việc thi hành đối sách này đã làm cho từ bọn đầu sỏ chóp bu ở Hà Nội đến bọn công cụ tay sai MTGP ở miền Nam phải điêu đứng, hoang mang. Bởi vì mục tiêu căn bản của Quốc Sách Ấp Chiến Lược là tách rời du kích quân sự cộng sản ra khỏi nhân dân nông thôn, không cho chúng bám dựa vào nhân dân để xây dựng cơ sở và hoạt động phá hoại, cuối cùng là cô lập hoàn toàn để chúng phải chọn lựa, một là ra hồi chánh, hai là bị tiêu diệt. Tất cả các Ấp đều được bảo vệ bởi các rào cản kiên cố bao quanh, các cổng chính ra vào được canh gác đúng mức tùy theo địa thế, mỗi Ấp đều có từ một đến nhiều chòi canh có tầm nhìn xa, ban ngày người dân được tự do ra vào để làm ăn, tuy nhiên người lạ mặt muốn vào Ấp phải qua thủ tục kiểm soát chặt chẽ, ban đêm các cổng chính ra vào được đóng lại, tuy nhiên các trường hợp cấp thiết của dân chúng vẫn được giải quyết. Ngoài ra, các Ấp Chiến Lược đều có thiết lập hệ thống báo động để phát hiện mọi trường hợp xâm nhập lén lút, bất hợp pháp vào Ấp. Việc quản lý Ấp do một Ban trị sự phụ trách, việc phòng thủ bảo vệ Ấp do lực lượng Phòng vệ dân sự phối hợp với các đơn vị Thanh niên, Thanh nữ Cộng Hòa của Ấp sở tại phụ trách. Ấp Chiến Lược được tổ chức theo phương thức tự quản, tự phòng và tự phát triển.
Quốc Sách Ấp Chiến Lược thực hiện rất hiệu quả, công việc tát nước để bắt cá, mặt trận du kích chiến của cộng sản bị ngưng trệ, du kích quân và hạ tầng cơ sở của chúng gần như không chốn dung thân, chủ trương bám dựa vào người dân bị bẻ gãy từ trứng nước. Tóm lại, Quốc Sách Ấp Chiến Lược đang trên đà thăng tiến và tỏ ra hữu hiệu thì bất ngờ bị hủy bỏ bởi chính những người có quyền cao chức trọng trong chính thể VNCH. Thật đáng tiếc vô cùng!"
Trên đây, là những trích đoạn đã viết về Ấp Chiến Lược, của hai vị tác giả Nguyễn Đức Cung và Trần An Phương Nam; riêng người viết bài này, trước đây, cũng đã có viết qua bài: Những Mùa Xuân Qua có một đoạn về Ấp Chiến Lược như sau:
Tại quê tôi, ấp chiến luợc là những vòng đai có hai vòng rào gai rừng, ở giữa hai vòng rào là những giao thông hào sâu quá đầu nguời, rộng hơn hai mét, do dân làng cùng nhau đào, dưới lòng giao thông hào có cắm chông làm bằng những gốc tre già đã được vót nhọn, sắc, có ba cạnh. Còn vòng rào là những tấm gai cứng nhọn, có bề rộng hai mét, bề cao hơn hai mét được ghép lại. Chúng tôi xin nhắc rằng: Vì để bảo vệ tánh mạng và tài sản của chính gia đình của mình nên mọi người dân quê đều hưởng ứng, họ rất vui vẻ với công việc này. Đặc biệt là lớp thanh niên, với những nụ cười, tiếng hát với nhau trong lúc cùng nhau thực hiện Ấp Chiến Luợc. Ngoài ra, dân lành còn dùng những chiếc thùng thiếc, loại thùng đựng dầu hỏa, hoặc thùng gánh nước đã bị hỏng, đem đục lỗ, cột dây thừng nhỏ đuợc tết bằng những sợi mây rừng; ban đêm sau 20 giờ Chiến Sĩ Dân Vệ đóng cổng ấp lại, rồi họ đem giăng dọc theo bờ rào Ấp Chiến Luợc và các lối đi ở bìa vuờn, để ngăn bước chân của Việt cộng nằm vùng ban đêm thường lẻn xuống giết hại dân lành và cuớp gạo, muối của dân mang lên rừng để sống. Bọn trẻ như chúng tôi thì khoái đi giăng thùng lắm, chúng tôi đòi Chiến Sĩ Dân Vệ phải cho chúng tôi đi theo, giăng thùng xong chúng tôi còn trông cho có ai đó, hoặc con vật gì nó vướng dây để được đánh mõ còn nếu được "la làng" thì càng thích hơn nữa. Tôi vẫn nhớ mãi về những năm tháng ấy thật vui, tôi nhớ dân quê tôi còn "phát minh" ra phong trào đánh mõ và la làng. Ngoài các trạm gác đêm của cá Chiến Sĩ Dân Vệ, thì nhà nào cũng sắm ra nhiều chiếc mõ tre; mỗi khi có tiếng thùng đổ thì mọi nguời đánh mõ ba hồi một dùi; nghĩa là đánh ba hồi dài, sau đó đánh một tiếng, còn nếu thấy có bóng dáng nguời xuầt hiện thì đánh mõ hồi một; nghĩa là đánh một hồi rất gấp, rồi kèm theo chỉ một tiếng. Lúc đó mọi nguời không ai đuợc đi lại phải chờ cho các Chiến Sĩ Dân Vệ kiểm tra xem tại sao thùng đổ, nếu là Việt cộng nằm vùng xuất hiện, thì các Chiến Sĩ Dân Vệ sẽ tri hô và mọi nguời đồng thanh la làng: "Cộng sản bớ làng, cộng sản bớ làng"; sau đó, dân làng tay cầm chiếc gậy có sợi dây thừng cuộn ở phía trên, tay cầm đuốc sáng trưng để vây bắt Việt cộng. Chính vì thế, mà tôi nhớ người dân đã bắt đuợc bốn cán bộ VC nằm vùng, nhưng tôi chỉ nhớ tên hai nguời là Duơng Đình Tú và Đỗ Luyện, cả hai đuợc đưa ra tòa sau đó họ ra Côn Đảo, đến khi trao trả tù binh họ chọn con đuờng ra Bắc. Còn nếu do một con chó thì họ sẽ la to: "Bà con ơi! chó vuớng thùng, đừng đánh nữa", thì dân làng họ mới thôi đánh mõ.
Một kỷ niệm mà không phải riêng tôi, mà có lẽ còn hai "nạn nhân" trong cuộc chắc chắn khó quên: Ấy là vào một đêm có đôi tình nhân đã hẹn hò nhau ở bìa vuờn, chắc họ đã ra đó lúc chưa giăng thùng, nên đến khuya khi họ quay về nhà, chẳng may họ đã vuớng phải dây và thùng thi nhau đổ, khi các anh Dân Vệ kiểm tra thì có bóng hai nguời họ hô: "Đứng im"; lúc ấy có tiếng cả hai xưng tên và nói: "Tụi em đây, xin các anh đừng bắn". Nhưng lúc ấy, dân làng đã đèn đuốc sẵn sàng, hai nguời mắc cỡ quá nên đứng im không dám nhúc nhích trông rất tội nghiệp. Sau đó, đôi tình nhân ấy không hiểu tại sao họ lại chia tay. Bây giờ hai nguời đều có gia đình riêng, ở cùng làng đã có cháu nội, ngoại. Cô gái vuớng thùng năm xưa hiện nay lại là chị chồng của em gái tôi.Tôi vẫn nhớ hoài những đêm vui kỷ niệm; ngày ấy, đêm nào bọn trẻ con trong làng cũng trông mong cho có ai đó, hay con chó, con mèo vuớng thùng để đuợc đánh mõ, vì cả làng đều đánh mõ hòa với tiếng trống ở các trụ sở thôn làng, nghe thật vui tai, chúng tôi đứa nào cũng thích, cũng đòi cha mẹ sắm cho những chiếc mõ thật tốt, kêu thật to. Chúng tôi thích đánh mõ, đánh dai lắm, cho đến khi các Chiến Sĩ Dân Vệ đã la to lên: "Chó vuớng thùng, bà con ơi đừng đánh mõ nữa" các anh cứ la, còn chúng tôi thì vẫn cố đánh thêm mấy hồi nữa, vì mấy khi thùng đổ để đuợc đánh mõ đâu.

Hậu quả của việc phá bỏ Ấp Chiến Lược:
Mùa xuân năm 1964, Quê hương tôi không còn thanh bình nữa; bởi lúc ấy, Nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã sụp đổ. Ấp chiến lược bị phá bỏ, vì như mọi người đều biết, từ thưở xa xưa tổ tiên chúng ta ở thôn quê quanh vườn người ta thường trồng tre, gai làm bờ rào, còn nhà thì có bờ dậu có cửa ngõ, làng thì có cổng làng, mục đích để phòng gian, như bài thơ "Cổng Làng" của Thi sĩ Bàng Bá Lân đã viết:
"Chiều hôm đón mát cổng làng
Gió hiu hiu thổi mây vàng êm trôi
Đồng quê vờn lượn chân Trời
Đường quê quanh quất bao người về thôn
Ráng hồng lơ lững mây son
Mặt trời thức giấc véo von chim chào
Cổng Làng rộng mở ồn ào
Nông phu lửng thửng đi vào nắng mai"
Như vậy, từ thưở xa xưa, tổ tiên của chúng ta đã từng xây dựng Làng, có Cổng Làng mà mỗi đêm thường được đóng, để bảo vệ dân làng, và mỗi ngày khi: "Mặt Trời thức giấc véo von chim chào" thì "Cổng làng rộng mở ồn ào" để cho những "Nông phu lửng thửng đi vào nắng mai"; huống thay là trong thời chiến tranh, lúc cái "Mặt trận giải phóng miền Nam" do cộng sản Hà Nội cho ra đời, thì những kẻ vì ngu xuẩn hay cố tình kia lại ra lệnh phá bỏ Ấp Chiến Lược, là phá bỏ mọi trở ngại, khó khăn để cho Việt cộng đánh chiếm các làng thôn một cách dễ dàng.
Tôi đã chứng kiến những ngày Xuân 1964, đầy khói lửa, hoang tàn, từng đoàn người bồng bế, hoặc gánh con thơ chạy trốn, dân quê tôi họ đã biết rất rõ về cái gọi là "Giải phóng miền Nam " vì cũng những người trong làng trước kia họ biết rõ là đảng viên cộng sản, sau đó họ biệt tích, rồi một ngày họ bỗng dưng từ trên núi trở về lại tự xưng là "Giải phóng miền Nam", nên dân quê tôi đã phân biệt Quốc, Cộng là hể ở trên núi xuống là cộng sản, chúng nói gì họ cũng không nghe, thấy bóng dáng cộng sản đâu là họ đều cõng - gánh con thơ tìm đường chạy trốn.
Kể từ đó, khi Ấp Chiến Lược bị phá bỏ, thì quê tôi, quận Tiên Phước gồm 15 xã, mà việt cộng đã chiếm hết 11 xã, chỉ còn có 4 xã nằm chung quanh quận lỵ, mà chẳng có xã nào còn nguyên vẹn, vì xã nào cũng mất một vài thôn; riêng xã Phước Thạnh, tức làng Thạnh Bình-Tiên Giang Thượng, gốm có 7 thôn, nhưng Việt cộng đã đánh chiếm mất 6 thôn, chỉ còn 1 thôn Đại Trung, nằm bên bờ Tiên Giang Hạ.
Và với những gì tôi đã viết trước đây, là hồi ức của một thời thơ ấu không hề biết thêu dệt; nghĩa là viết một cách vô cùng trung thực, thấy sao nói vậy, nhớ đâu viết đó, chứ không phải là văn chương.
Vì vậy, một lần nữa, người viết muốn lập lại là chỉ mong ước để cho lớp trẻ sau này còn biết đến một công trình của người đi trước đã dày công xây dựng.
by Lý Tưởng Người Việt
Mười hai giờ trưa ngày 30 tháng Tư năm 1975, quân Cộng sản Bắc Việt ngồi xe thiết giáp tiến vào dinh Độc Lập. Tướng Dương Văn Minh – thay Tổng Thống Trần Văn Hương, người mà Nguyễn Văn Thiệu giao tất cả quyền hành cho trước khi đào tẩu, cùng vài nhân viên nữa ra tiếp đầu hàng không điều kiện (*)…
Tướng Minh mặc áo ngắn tay, bỏ ngoài quần, tâm sự với viên hầu cận "những người cách mạng không đeo cà vạt" trước giờ ông ta chờ đợi dâng hiến miền Nam. Tướng Minh nói với tên sĩ quan cao cấp có "bốn bộ đội võ trang đầy mình":
"Thưa ông sáu, tôi chờ ông từ sáng để trao lại quyền hành cho ông…"
Tên này đáp cộc lốc và "mày tao" với tướng Minh:
"Mày còn dám nói tới chữ trao quyền. Mày chỉ là kẻ tiếm quyền, là bù nhìn. Mày không trao quyền lại cho chúng tao. Chúng tao dùng súng để lấy lại cái quyền ấy. Tao nói rõ  tao không phải là một cấp tướng, tao là trung tá chính ủy. Kể từ lúc này tao cấm mày ngồi."
Mặt tướng Minh tối sầm lại. Cái lối nói hung bạo và khinh miệt ấy làm ông ta nhớ lại rằng ông ta đã nói chuyện với bọn người Bắc, chứ không phải với các người Mặt Trận Giải Phóng. Chỉ có xe tăng, sĩ quan và lính Bắc của Lữ đoàn 26 đang ở trước mặt ông ta. Bọn Bắc Kỳ! Chỉ thấy bọn Bắc Kỳ mà ông ta chưa bao giờ chịu nổi và bọn ấy chỉ coi ông ta là kẻ bại trận, chứ không phải là bạn. Tướng Minh lại cố gắng ra vẻ thân thiện:
"Chúng tôi đã sữa soạn bữa ăn tiếp đón các ông. Có món yến, súp cua…"
Tên Trung Tá Bắc Kỳ cắt lời ông ta bằng một cử chỉ hạ cấp:
"Mày và những đứa khác, tụi mày bị bắt rồi. Giữ lấy cái lối ăn tư sản của mày. Chúng tao sẽ dọn cho tụi mày một bữa cơm chiến tranh: Một nắm cơm và một hộp thịt mặn." (**)
*
Câu chuyện sau đây xảy ra một năm, sau ngày hoạt cảnh trên xảy ra. Khi đó, những người miền Bắc thắng trận "bằng một mẻ lưới đã hốt trọn ổ quân, công, cán, chính của miền Nam" nhốt vào những trại giam mà họ gọi bằng cái tên trá hình là "trại cải tạo".
Chuyện này xảy ra ở phân trại K.7, trại giam Suối Máu thuộc thành phố Biên Hòa. Vì đây là một chuyện có thực, theo lời của người kể chuyện, xin tạm gọi tên nhân vật chính của câu chuyện là X. X. là sĩ quan cấp Tá của Lực Lượng Biệt Cách Dù , binh chủng hào hùng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, đã được ca tụng qua hai câu thơ:
"An Lộc địa danh ghi chiến tíchBiệt Cách Dù vị quốc vong thân!"
Như đa số những sĩ quan miền Nambại trận, trong trại tù, X. vẫn giữ được tư cách của một sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Hầu hết những sĩ quan miền Nambại trận đều coi khinh những hành động chỉ điểm của những kẻ bán rẻ lương tâm. Nói nào ngay, trong "mô hình xã hội đã tố cáo, phản bội, vu khống người khác" – như một nhà văn của chính chế độ Việt Cộng đã thú nhận, thì việc làm của những sĩ quan miền Nam nhẹ dạ, cả tin vào những lời xảo mị, tàn phá nhân  phẩm người tù bằng những thủ đoạn bỏ đói, đánh đòn cân não để hạ giá người tù xuống ngang hàng với con vật của hệ thống nhà tù Việt Cộng – một hệ thống tổng hợp những thủ đoạn tinh xảo, dã man nhất của những ngành tình báo K.G.B. của Liên Sô và Trung Ương Tình Báo Sở của Trung Cộng, cũng là chuyện thường tình.
Trong những luyện ngục đó, những kẻ sống bình thường cũng đã là "anh hùng" lắm rồi!
Trong tổ, đội do Việt Cộng phân chia để kiểm soát, X. là một người rất được lòng anh em. Anh là mẫu người "khi làm quan ta không lấy làm vinh, khi làm tù ta không lấy làm nhục." Không bao giờ anh em nghe anh trách móc, chửi rủa những người lãnh đạo bất tài, vô tướng đã lường gạt kêu gọi binh sĩ ở lại tiếp tục chiến đấu không được hèn nhát chạy trốn như lũ chuột, nhưng chính những người này lại là những con chuột chù đã bỏ thành mà chạy trước lúc giặc vào. Anh cũng chẳng bao giờ than van gì về đời sống khổ cực, thiếu thốn trong trại cải tạo.
Thế cho nên những việc xảy ra cho X. trước ngày những người miền Bắc thắng trận ăn mừng lễ chiến thắng năm đó, mọi người đều tỏ vẻ ái ngại, lo lắng cho anh. Số là vào trưa ngày 28 tháng 4 năm 1976, cán bộ quản giáo vào trại với hai vệ binh có võ trang, cầm giấy đọc tên gọi X. đi "làm việc."
Trước đó ít lâu, một số người cũng bị gọi tên đi "làm việc" rồi sau đó, đã bị kết án tử hình vì tội "tiếp tay đế quốc Mỹ chống phá cách mạng" như trường hợp Lê Đức Thịnh, Đại úy Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, như Trung úy Nguyễn Ngọc Trụ, giảng viên trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt và nhiều người khác nữa.
Ban chỉ huy Đoàn 775, tức Trung đoàn đặc biệt được thành lập vào tháng 7 năm 1975, đặc trách việc cải tạo tù binh, nằm cạnh quốc lộ 1, là những dãy nhà tiền chế trước đây được Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa dùng để giam giữ tù binh Bắc Việt trước khi trao trả theo hiệp định Paris.
Buổi trưa, X. được hai vệ binh có võ trang đưa vào trại. Và buổi chiều lại gọi đi "làm việc" rồi lại được đưa vào trại. Qua ngày 29 lại hai buổi trưa, chiều được gọi đi "làm việc" dưới những họng súng A.K.
Một số bạn bè được X. cho biết là anh được đưa lên Trung Đoàn và được cho ăn "bồi dưỡng." Thức ăn hàng ngày ở trại cải tạo Suối Máu lúc đó là su su, cà rốt, củ cải trắng nấu với nước muối, thỉnh thoảng vào những ngày lễ lạc của Việt Cộng mới có được chút ít thịt. Có người đã "cải thiện" bữa ăn bằng cách bắt cắc ké, bắt chuột và làm bẫy gài chim én. Thế nên việc Ban chỉ huy Trung Đoàn 775 mời X. lên "bồi dưỡng" chẳng ai hiểu được lý do, ngay cả X. Mỗi người góp một ý kiến. Ý kiến nào cũng bi thảm. Riêng X. vẫn ung dung:
"Tới đâu thì tới. Tớ chẳng làm được như cái ông gì khi được giặc mời cứ bình tĩnh gắp óc người vừa ăn vừa uống rượu, nhưng tớ cũng chẳng có gì phải lo lắng. Mấy ổng muốn bắn, muốn giết gì thì cũng đành chịu thôi. Bọn mình bây giờ cũng như Kiều đã tới sông Tiền Đường." (1)
Sáng ngày 30 tháng 4, X. lại được cán bộ quản giáo và hai vệ binh có võ trang gọi lên Ban Chỉ Huy Trại "làm việc."
Sau đây là hoạt cảnh và những lời đối thoại ở Ban Chỉ Huy Trung Đoàn 775 giữa X. và "những người cách mạng", theo lời kể lại của X.
Lời Trung tá Chính ủy Trung Đoàn 775 nói với X. khi cán bộ quản giáo đưa X. vào ban Chỉ Huy Trại:
"A… chào anh X., hôm nay chúng tôi, những người đại diện Đảng và Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa, theo đúng chính sách khoan hồng nhân đạo đối với những người lầm đường, lạc lối đã biết ăn năn, hối cải…"
Viên chính ủy ngập ngừng một lúc rồi lại nói tiếp:
"Sau đây chúng tôi sẽ cho anh gặp đồng chí Y., bố của anh từ miền Bắc vào đây thăm anh trong dịp đồng chí vào miềnNamcông tác. Đề nghị anh trình bày với đồng chí Thứ Trưởng là chế độ ăn uống trong trại rất tốt – như chúng tôi đã bồi dưỡng anh hai ngày vừa qua."
Viên chính ủy có vẻ ngần ngừ, rồi nói tiếp:
"Nói chung là việc ăn uống của toàn trại cũng chưa được… tốt lắm. Đó là khó khăn chung bởi vì ta chỉ mới tiếp thu miềnNammới có một năm, địch và đế quốc Mỹ đã để lại cho ta biết bao nhiêu là khó khăn. Mặc dù đã cút chạy nhưng đế quốc Mỹ vẫn chưa từ bỏ dã tâm xâm lược, chúng đã dùng đủ mọi thủ đoạn…"
Viên chính uỷ gầm gừ:
"Đúng là cái bọn đế quốc… chết đến đít mà vẫn còn cay. Như vừa qua anh đã biết đấy: Chúng cho người lẻn vào phá hủy kho đạn Long Bình."
Y thở dài:
"Mà thôi… bỏ qua mấy chuyện đó đi. Anh X. nhớ nhé, nếu đồng chí Thứ Trưởng có hỏi han gì về chuyện ăn uống thì anh nói hộ một tiếng, nhé."
Sau đó, X. được viên chính ủy đích thân đưa qua phòng tiếp tân. Trong phòng có hai người đàn ông, một già, một trẻ. Người đàn ông lớn tuổi mặc thường phục đứng dậy khi viên chính ủy Việt Cộng và X. bước vào. Họ bắt tay nhau và, sau đó, viên Trung Tá chính ủy xin phép rút lui để "đồng chí Thứ Trưởng và anh X. được tự nhiên."
Khi viên chính ủy đi khỏi, không khí trong phòng trở nên ngột ngạt. Người đàn ông mặc thường phục đầu tóc bạc phơ, gương mặt khắc khổ có vẻ hao hao giống X. Người trẻ tuổi mặc quân phục của Quân Đội Nhân Dân miền Bắc, trên cổ có đính cấp bậc Thiếu úy, trên đầu úp chụp chiếc nón cối có đính huy hiệu ngôi sao vàng trên nền đỏ màu máu, dù lúc bấy giờ là đang ở trong phòng.
Người đàn ông lớn tuổi tằng hắng, đôi mắt hấp háy sau làn kính trắng, bắt đầu câu chuyện:
"Nhân dịp vào đây công tác, nhân tiện bố ghé thăm mẹ của anh, được bà ấy cho biết là anh đang cải tạo ở đây, bố đến thăm anh…Như anh đã biết, đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Hồ chủ tịch đã đánh thắng hai đế quốc Pháp và Mỹ để thu giang sơn về một mối. Đất nước ta từ nay sạch bóng quân thù. Bằng cuộc cách mạng giáo dục song song với cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, Đảng và Nhà Nước ta sẽ đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa mà không cần phải quá độ qua chủ nghĩa tư bản…"
Người đàn ông lớn tuổi chợt ngừng nói khi nhìn thấy X. đang nhìn mình có vẻ ngạc nhiên. Giọng nói của ông ta bớt hăm hở:
"Anh cũng biết là cách mạng bao giờ cũng khoan hồng nhân đạo. Về những sai lầm của anh trong quá khứ, anh phải sửa chữa bằng việc cải tạo bản thân. Đây là chính sách chung, bố không thể giúp gì cho anh được mặc dù mẹ anh có yêu cầu bố giúp đỡ cho anh. Anh cố chấp hành nghiêm chỉnh chính sách của Đảng và Nhà Nước để sớm trở thành một công dân lương thiện của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa ViệtNam."
Người đàn ông lớn tuổi ngừng nói. Ông thấy X. vẫn ngồi bất động trên ghế, nhìn ông với ánh mắt lạ lùng, khó hiểu, chợt gương mặt anh ta có vẻ tươi tỉnh, anh ta gật gù:
"Thưa bố, con biết. Con xin nghe và làm theo lời chỉ dạy của bố."
Sau câu nói, X. ngập ngừng một lúc, rồi quay sang hỏi người lớn tuổi:
"Thưa bố, con có thể nói chuyện với bố bằng Pháp ngữ hoặc Anh ngữ?"
Người đàn ông lớn tuổi được viên Trung tá chính ủy gọi là đồng chí Thứ Trưởng ngạc nhiên nhìn X.. Ông ta không ngờ cái thằng lỏi tì lúc ông đi theo cách mạng của cái thuở "chín năm đốt đuốc soi rừng", vợ ông còn ẵm ngửa trên tay, sau đó, vợ của ông vì mất liên lạc với chồng đã theo gia đình bồng con lên tàu há mồm di cư vào Nam và ở vậy nuôi con cho tới ngày miền Nam được miền Bắc "giải phóng" mà nó đã được nên người tới như vậy. Thì ra bà ấy cũng tài lắm chứ có chơi đâu. Ông ngần ngừ một lúc rồi nói với X. với giọng nói có vẻ thân mật, khác hẳn với cái giọng-nói-của-Đảng-và-Nhà-Nước:
"Con có thể nói chuyện với bố bằng tiếng Pháp."
X. bắt đầu hỏi về tình trạng gia đình, sinh hoạt ngoài miền Bắc. Người bố nhìn đứa con đã mấy chục năm xa cách với cái nhìn thiện cảm. Ông thực tình kể lại những chính sách, những đãi ngộ của Đảng và Nhà Nước đối với ông – một Thứ Trưởng của một Bộ trong chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Người bố kể rất nhiều chuyện với giọng nói ngày càng thân mật. Đứa con chỉ ngồi im lắng nghe., thỉnh thoảng anh ta lại gật gù. Khi người bố dứt lời, X. chậm rải nói:
"Thưa bố, qua những điều bố vừa cho con biết thì theo con, con thấy là Đảng và Nhà Nước của bố có chiến thắng được cái gì đâu."
Người bố sửng sốt nhìn đứa con, ông tưởng chừng như tai mình nghe lầm. X. vẫn tỉnh bơ nói tiếp:
"Thưa bố, xin bố đừng giận con về những điều con nói thực với bố. Theo những điều bố vừa kể thì con thấy là Đảng và Nhà Nước của bố không có chiến thắng một cái gì hết. Nếu nói mục đích của chủ nghĩa Cộng sản là đem lại cơm no, áo ấm cho dân cho nước; thì Đảng và Nhà Nước của bố trong mấy chục năm qua đâu có thực hiện được một chút nào đâu."
Người bố tằng hắng, định lên tiếng nhưng X. đã nói tiếp:
"Con xin lỗi bố, xin bố cho phép con trình bày ý kiến của con. Con sẽ không nói gì về những cái cao xa của những quốc tế vô sản, của chủ nghĩa tư bản gì hết, những điều con nói với bố là những cái thiết thực trước mắt. Điển hình như những đải ngộ mà Đảng và Nhà Nước đã dành cho bố: một Thứ Trưởng của Chính Phủ. Con có nghe bố nói là với chức vụ Thứ Trưởng mỗi tháng bố sẽ được cấp phát 2 ký thịt lợn và nếu muốn mua thêm thì phải trả thêm tiền. Và nếu muốn mua nhiều hơn nữa thì phải mua với giá chợ đen…"
Người bố vừa định xen vào nhưng X. đã tặc lưỡi nói:
"Xin bố đừng ngắt lời con. Những điều con nói đây là con nói trong tình cảm gia đình, nói bằng trái tim, bằng tình thương, chứ không phải nói bằng chủ nghĩa giáo điều. Dĩ nhiên bố có quyền đề nghị bỏ tù con lâu hơn vì nhưng cái gọi là tư tưởng phản động, có điều con chỉ xin bố tin rằng những điều con vừa trình bày với bố là Sự Thật, xuất phát tự đáy lòng của con. Theo ý kiến của riêng con, nếu nói mục đích của nhà cầm quyền là đem lại cơm no, áo ấm cho dân thì miềnNamđã có được từ khuya. Ở miền Nam, con xin lỗi bố, không cần phải là Thứ Trưởng như bố, từ anh đạp xích lô đến Tổng thống Thiệu, có tiền muốn mua bao nhiêu thịt lợn cũng được, không cần phải cấp bậc, chức vụ, không cần phải chợ đen, chợ đỏ gì cả."
X. tặc tặc lưỡi:
"Con chỉ nói một thí dụ nhỏ thôi. Con mong rằng nếu có những gì bố không đồng ý, xin bố tha lỗi cho con vì mẹ con có dạy rằng: "Yêu ai cứ bảo là yêu. Ghét ai cứ bảo là ghét. Dù ai ngon ngọt nuông chiều. Dù ai cầm dao dọa giết. Cũng không nói ghét thành yêu!" (3).
Người bố nhìn đứa con. Đôi mắt sáng như sao băng của đứa con chiếu thẳng vào người bố:
"Thưa bố, con rất biết ơn về việc bố đã còn nghĩ đến con, đã vào đây thăm con và dạy dỗ con. Con xin bố tha lỗi về việc trong tờ khai lý lịch con đã khai là bố vô danh, dù mẹ con có cho con biết tin tức về bố. Con xin lỗi bố con khai như vậy vì con không muốn ảnh hưởng đến sự nghiệp của bố. Việc con làm, con chịu, vì con tin là con đã đi đúng đường. Bố không cần phải bận tâm gì về việc có can thiệp được hay không can thiệp được cho con."
X. ngừng lại một lúc lâu, sau cùng, anh bậm môi, nói với giọng đanh thép:
"Có một điều con xin được phép nói với bố là Đảng của bố và bố đã đi lầm đường!"
Gương mặt của người đàn ông lớn tuổi bỗng trở nên tối sầm. Ông ta, ngay từ lúc đầu khi viên chính ủy và đứa con bước vào, ông ta đã cảm thấy có một cái gì không ổn đang rình rập ông. Ông không bao giờ nghĩ là cái thằng con vừa gặp lại sau mấy chục năm xa cách nó lại dám nói với ông như vậy. Nó là "thằng tù" mà! Khả năng của ông, ông có thể can thiệp cho nó về sớm. Phép tắc nào mà không có một ngoại lệ. Sở dĩ ông không muốn đứng ra bảo lãnh cho nó vì ông có ý định bắt cái ghế Bộ Trưởng trong kỳ đại hội Đảng sắp tới. Khi vào đây ông nghĩ là khi gặp ông thằng con nó sẽ khóc lóc, năn nỉ ỉ ôi để ông can thiệp cho nó về sớm, chẳng ngờ, ông gặp thằng con ngoài cả cái ý nghĩ của ông. "Đảng của bố và bố đã đi làm đường!" Con cái láo lếu thật! Nhưng mà rõ ràng những thực tế nó dẫn chứng ông đâu có thể phủ nhận được. Lịch sử đâu thể đem căng trên một cái bàn căng. Lịch sử là lịch sử. Duy vật sử quan là một cưỡng ép. Người đàn ông lớn tuổi chợt giật mình: Chỉ mới có thằng lỏi mà mình đã chao đảo, thì còn nói gì tới những thằng xếp của nó. Ông buông thỏng hai tay.
Vừa lúc đó thằng con tiếp lời:
"Thưa bố, con nhờ bố về nói dùm với mẹ là xin mẹ tha lỗi cho con về việc trong những ngày tuổi mẹ đã xế bóng con không thể sớm hôm săn sóc mẹ. Con cũng nhờ bố cho con kính gửi lời thăm dì…"
Ông bố ngồi im, chết cứng trước những sợi dây tình cảm mà thằng con nó vừa buộc cứng vào ông.
Quay qua viên thiếu úy Quân Đội Nhân Dân, X. hỏi ông bố:
"Thưa bố, anh này là ai?"
Người bố cựa quậy trong cái vỏ vô hình êm ái đang bao vây lấy ông:
"Đây là Z., em cùng cha khác mẹ với con đấy. Sau khi mẹ đem con di cư vào Nam, bố vì lý tưởng đi hoạt động cách mạng, do đó bố được Đảng cho phép cưới một người vợ khác. Bố đã kết hôn với dì con. Và bố có thêm hai đứa con."
X. quay nhìn viên thiếu úy bộ đội, làm ra vẻ ngạc nhiên:
"Thế ra là chú Z. đấy à. Chú Z. ăn học tới đâu rồi nhỉ?"
Viên  thiếu úy bộ đội lí nhí một điều gì đó nghe không rõ. X. nói tiếp:
"Theo anh được biết là ở đâu cũng vậy: "Tiên học lễ, hậu học văn." Chú là sĩ quan Quân Đội Nhân Dân chắc chú cũng phải có học. Chú theo bố vào đây thăm anh, anh rất cám ơn. Có điều anh nhắc cho chú biết: gia đình ta không có cái thói mất dạy trẻ nhỏ mà hỗn hào vô lễ với người lớn. Em gặp anh cả mà chẳng biết mở miệng chào."
Ông bố lặng người. Viên thiếu úy bộ đội đỏ mặt. X. tỉnh bơ nói tiếp:
"Lần này anh tha lỗi cho chú đấy. Nhưng lần sau là chú liệu hồn đấy nhé. Gia đình ta vốn nề nếp từ trước tới giờ. Mẹ vẫn thường nhắc nhở anh những điều lễ giáo mà bố đã dạy dỗ, dặn dò mẹ."
Trầm ngâm một lúc, X. nói tiếp:
"Chú có ghé nhà anh chú biết đó. Trước khi phải vào đây, anh may mắn hơn một số người khác. Với cái trại nuôi heo giống ở Thủ Đức và những của nổi, của chìm mà anh để lại ở nhà, anh tin rằng mẹ và vợ anh tức chị dâu của em không đến nổi vất vả. Bố và chú lúc trở về, anh xin bố và chú ghé nhà. Chú thích gì, dì và chú em ở ngoài Bắc nếu thích cái gì như đồng hồ, radio, cassette, xe đạp… em nói với chị chị sẽ mua. Nhờ em nói với dì, với chú em của chúng ta… đây là quà tặng của anh."
X. quay sang ông bố:
"Bố thích gì cứ nói mẹ mua, con biết là với tài sản của con gầy dựng với sự trợ giúp của mẹ và vợ con, con có khả năng tặng bố, dì và các em những món quà theo ý thích…"
*
Câu chuyện chấm dứt ở đây. Như đã nói đây là một chuyện có thực.
Vào tháng Chạp năm 1978, có cuộc nổi dậy của toàn thể 7K. tức bảy phân trại của trại cải tạo Suối Máu. Không biết tự lúc nào, các hàng rào kẽm gai ngăn cách giữa các phân trại đã bị cắt đứt. Trong đêm Giáng Sinh năm đó, hàng vạn tù nhân của bảy phân trại đều tập họp tại hội trường và tất cả đều cất cao giọng hát hát bài mừng Chúa giáng sinh.
Quân Khu 7 đã huy động xe tăng, thiết giáp bao vây trại cải tạo Suối Máu, cũng như trước đó đã bao vây các nhà thờ thuộc khu vực Hố Nai, Gia Kiệm.
Những người cầm quyền đã ra lệnh bắn xối xả vào hàng vạn tù nhân đang cất cao giọng hát mừng Chúa ra đời: "Trong đêm Noel lạnh lẽo Chúa sinh ra đời. Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá bên máng lừa…" Có người bị trúng đạn lòi ruột, máu chảy ròng ròng, lấy tay nhét ruột vào, ôm bụng hát tiếp. Mặc súng nổ, những người tù vẫn tiếp tục cất cao giọng hát mừng Chúa ra đời. Tiếng hát trong đêm vang đi rất xa. Sau này, các cán bộ quản giáo có mặt trong đêm hôm  đó đã nói:
"Các anh… kinh thật. Chúng tôi không hiểu tại sao các anh "cuồng tín" tới như vậy. Đạn nổ ầm ầm thế mà các anh vẫn tỉnh bơ hát bài mừng Chúa ra đời. Chúa các anh là cái quái quỷ gì mà lại được các anh ca tụng đến thế. Chúa các anh có đem các anh ra khỏi vòng rào kẽm gai đâu. Có điều phải nói là chúng tôi… sợ các anh thật!"
Những người tù không trả lời những cai tù bằng lời nói, họ trả lời bằng việc làm; bởi, không có căn bản để thảo luận giữa những kẻ vô thần và những người hữu thần. Bởi, chỉ có sự bình đẳng giữa những người đồng đẳng.
Người được toàn thể tù nhân bảy phân trại bầu lên để chỉ đạo tổ chức mừng Giáng Sinh năm đó là X.
Anh đã bị biệt giam trong conex nhiều tháng trời. Những cai tù đã tra tấn, đánh đập, dọa nạt, rúng ép để anh phải khai đồng bọn. Câu trả lời duy nhất của anh:
"Đồng bọn của tôi là tất cả trại viên 7 phân trại cũng như tất cả người dân miền Nam không đồng ý về việc các ông đã áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên đầu, lên cổ chúng tôi."
*
Người viết lại câu chuyện này không có ý làm-công-việc-văn-chương-chữ-nghĩa vốn ngày càng nhẹ nhổm nơi trường văn, trận bút ở hải ngoại. Đây là một câu chuyện có thực, người viết chỉ nghe sao ghi lại vậy, không thêm thắt, cường điệu. Đoạn (*), người viết ghi lại ý kiến của cố học giả Nguyễn Hiến Lê về cái nhìn của ông đối với việc sụp đổ của chế độ Đệ Nhị Cộng Hòa. Đoạn (**), người viết trích từ quyển "Sàigòn" của ông Phạm Kim Vinh. Có thể vì ông Phạm Kim Vinh dịch lại từ sách ngoại quốc nên mới có cái chuyện mày, tao, chi, tớ giữa ông tổng-thống-thời-cơ Dương Văn Minh với ông Đại tá chính ủy Việt Cộng Bùi Tín – người vừa làm ồn ào hải ngoại với cái kiến nghị của một công dân!
Người viết cũng xin không có ý kiến về những việc này. Xin để tất cả cho lịch sử phê phán. Bởi, lịch sử vốn nghiêm khắc và công bằng. Một điều chắc chắn là Thượng Thư Bùi Bằng Đoàn, bố của Đại Tá Việt Cộng Bùi Tín, không thể ngồi chung chiếc chiếu lịch sử với nhà ái quốc Phan Bội Châu!
Theo lời người kể chuyện, X. đã được trả tự do sau mười ba năm cải tạo. Thứ Trưởng Y., bố anh, vài tháng sau khi đi thăm anh về đã từ chức. Và viên thiếu úy Quân Đội Nhân Dân, người em cùng cha khác mẹ với X. cũng đã nộp đơn xin phục viên. Tất cả gia đình họ đã vào miền Nam. Theo lời người kể chuyện, X. đã từ chối qua Mỹ theo chương trình H.O. Anh nói với người kể chuyện về một thần thoại kể về một vị thần chỉ có sức mạnh khi đứng trên mặt đất, khi bị nhấc lên khỏi mặt đất thì vị thần đó sẽ không còn sức mạnh.
Người kể chuyện cũng cho biết là gia đình của X. bây giờ rất hòa thuận. Người bố và đứa em đều công nhận là họ đã lầm đường. Họ đang cùng nhau chung bước trên con đường Cách Mạng Quốc Dân. Họ và những người cùng đi với họ quyết lấy máu của mình để viết nên trang sử mới của dân tộc.
Thái độ sống của họ sẽ là điều mà những kẻ loay hoay lẩn quẩn giữa sống và viết, không dám sống điều mình viết phải cụp đuôi, cúi đầu. (3).
Họ là những người đã chọn ở lại để sống, chết với quê hương.
*
ĐOẠN VIẾT THÊM: Tôi biết có rất nhiều người đã chọn ở lại để sống chết với quê hương. Cuộc "cách mạng hoa Lài" với cơn bão lửa của tự do, dân chủ, nhân quyền đã bùng lên ở Tunisia rồi sẽ lan qua Ai Cập… rồi sẽ đến Việt Nam. Hy vọng toàn dân trong nước sẽ cùng những người đã chọn ở lại để sống chết với quê hương sẽ tiếp sức với làn gió "cách mạng hoa Lài" thổi sập "căn nhà cộng sản" đã mục nát để, xây dựng lại đất nước Việt Nam với đầy đủ tự do, dân chủ, nhân quyền vốn là những quyền mà toàn dân Việt Nam phải được hưởng.
(1)   Câu nói của nhà văn Doãn Quốc Sĩ nói với Vũ Hạnh sau ngày 30-4-1975
(2)   Thơ Phùng Quán.
(3)   Bài Tự Phận Ca viết về anh hùng Nguyễn Cao của Tường Vũ Anh Thy.
 NGUYỄN THIẾU NHẪN
  San Jose 1992-2012
by Lý Tưởng Người Việt

Kính thưa Quý Vị:

Hôm nay, Thứ Sáu Tuần Thánh, trước 3 giờ chiều (tại Đức) là thời điểm tưởng nhớ giây phút Chúa tắt hơi, tôi làm bài thơ dưới đây, mà xót xa nghĩ đến lỗi lầm của mình đã làm Chúa buồn dù các tội ấy không đến nổi nặng lắm. Nhưng, xét cho cùng, đã là tội thì nó ngược với Tình Yêu của Thiên Chúa là Đấng Thánh. Cho nên, chính tôi cũng là lý hình thời nay đang hành hạ Chúa bằng roi da bọc sắt, mão gai, lưỡi đòng... là tội lỗi của mình.

Đặc biệt, tôi nghĩ đến Thánh Giá Đồng Chiêm, Thái Hà, Tam Tòa..., nhất là Thánh Giá ở Giáo Xứ Cồn Dầu bị tà quyền tại Đà Nẵng ra lệnh phá đi trước Lễ Phục Sinh. Vậy mà ĐỨC ĐẠI giám mục ''Châu Ngọc'' Tri lại trở thành ''vô tri'', tức là bất mộ. ĐỨC ĐẠI giám mục Nguyễn Thái Hợp, chủ tịch Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình chỉ muốn ''thái hòa, hòa hợp'' với đảng vô lương là bịt tai, miệng, mắt, mũi, đầu, không chịu mở (EPHATA) chúng ra mà nhận thức rõ thảm trạng Chúa đang bị tra tấn dã man.

Do đó, bài thơ hôm nay cũng là món quà giúp Hàng Giáo Phẩm Việt Nam xét mình có xứng đáng bước tới, quỳ lạy, hôn Chân Chúa không!!!

Đaminh Phan văn Phước

 

thanhgia

Con Đường mà Chúa đi qua

Mang tên ''Thập Giá'' chan hòa Tình Thương!

Con Đường Ngài ra pháp trường

Mang theo tội lỗi của dương thế nầy!

Vai Ngài nặng trĩu một cây

Có tên ''thập ác'' của bầy sói lang!

Là Vua Vũ Trụ, Thiên Đàng

Vì yêu nhân loại, Ngài mang thập hình!

Con Đường của Chúa chứng minh:

- Ngài là Thiên Chúa, là Tình Bao La!

- Là Lời hằng ở trong Cha *

- Ngài thương con lắm, mới ra nỗi này:

- Chết trên Thập Giá, dang tay

- Bởi vì Chúa muốn giải bày Tình Thương!

Giờ đây, con hiểu ''Đoạn Trường''

Nên yêu Thập Giá, Con Đường Chúa đi!

Đời con chẳng có nghĩa gì

Nếu không thờ Chúa Trị Vì trên cao!!!

Chết rồi, mình sẽ ra sao?

Khinh khi Thánh Giá, hồn vào nơi đâu?

Chúa ôi, Thánh Giá Nhiệm Mầu

Mão gai Chúa đội trên đầu vì yêu!

Nhìn lên Thánh Giá, nhớ Chiều

Của Ngày Thứ Sáu Tình Yêu Tuyệt Vời!

Cho con Thánh Giá, Chúa ơi

Để con thánh hóa đường đời chông gai!

Từ nay, con quyết theo Ngài

Là mang Thánh Giá dù ai nhạo cười!

Khổ đau là đóa hoa tươi

Giúp con sống Đạo, giữ Mười Giới Răn...

 

                          ***

Đức Quốc, 06.4.2012

Cảm tác trước giờ Chúa tắt hơi.

Đaminh Phan văn Phước

 

Kính mời quý Vị nghe hai ca khúc: Con Đường Chúa Đã Đi Qua - Lệ Hằng – YouTube

                                                           TINH YEU THIEN CHUA - YouTube

 

* ''Lời hằng ở trong Cha'': Tin Mừng theo Thánh Gioan 1,18: ''(Thiên Chúa) Con Một ở trong lòng Cha.'' Trong tất cả mọi bản dịch, động từ ''ở, hiện diện'' được dùng với thì hiện tại để chứng minh chân lý vĩnh hằng: hôm qua, hôm nay, ngày mai và mãi mãi! Trả lời câu hỏi của tông đồ Philip, Chúa nói: ''Con không tin Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta sao?'' (Gioan 14,10) Vì thế, phải dịch câu ở Tin Mừng theo Gioan 1,1 như sau: ''…, và Lời ở trong Thiên Chúa...'' đúng với ý nghĩa của giới từ Hy-La-Đức ''pros, apud, bei'' có động từ ''ở, hiện hữu'' không chỉ sự di chuyển.

by Lý Tưởng Người Việt
Trong một thông báo khác, nhóm Thanh Niên Cờ Vàng đã cho biết địa chỉ trang nhà và email của Thanh Niên Cờ Vàng đã bị Việt Công đánh cắp. Các trang nhà là
caydaowww.thanhniencovang.com , www.thanhniencovang.net, www.thanhniencovang.org và thanhniencovang at gmail.com đã bị đánh cắp từ tháng 9 năm ngoái tới nay. Tổ chức này cho biết đang làm việc với registrar và sẻ thông báo đến với quý vị khi có kết quả. Hiện tại trang nhà của Thanh niên Cờ vàng đã được chuyển đến www.TNCVOnline.com. xin thông báo cùng tất cả quý vị về việc này.