Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2011
by LTSA

LỰC LƯỢNG DÂN TỘC CỨU NGUY TỔ QUỐC
P.O. Box 6005, Torrance, CA 90504, USA
187 The Horsley Drive, Fairfield, NSW 2165, AUSTRALIA
Website: www.lldtcntq.org – Email: vpll.llcq@gmail.com
THÔNG CÁO BÁO CHÍ
Ngày 19 tháng 5 năm 2011
về
Trang Nhà của Đài Phát Thanh ĐÁP LỜI SÔNG NÚI
Bị Phá Hoại
Ngay sau khi Đài phát thanh ĐÁP LỜI SÔNG NÚI (ĐLSN) phát chương trình hôm nay, ngày 19 tháng 5 năm 2011 với chủ đề đặc biệt "Ngày sinh Hồ Chí Minh", trang nhà của Đài đã bị phá, không còn có thể truy cập để nghe buổi phát thanh qua Internet.
Trong buổi phát thanh này, sau phần tin tức thường lệ, Đài ĐLSN đã phát bài phỏng vấn Linh mục Nguyễn Hữu Lễ về cuốn phim tài liệu "Sự Thật về Hồ Chí Minh" trình bày ý nghĩa và tác dụng của cuốn phim trong việc giải bày các sự kiện lịch sử Việt Nam. Kết thúc là bài quan điểm "Huyền thoại và sự thật" nói lên tệ nạn sùng bái lãnh tụ trong các chế độ CS.
Ngay sau khi buổi phát thanh chấm dứt, vào lúc 10 giờ tối, giờ Việt Nam, tức 8 giờ sáng tại California, Hoa Kỳ, ngày 19 tháng 5, website của Đài tại địa chỉ http://www.radiodaploisongnui.org/ đã bị phá hoại, không thể vào để nghe các buổi phát thanh hoặc đọc các tài liệu.
Ban Kỹ Thuật của Đài đã cấp thời thiết lập và nối kết Đài vào các địa chỉ sau để thính giả có thể truy cập: http://www.radiodaploisongnui.com/, và http://www.lldtcntq.org/. Các buổi phát thanh của Đài cũng được website thân hữu Đối Thoại loan tải, địa chỉ http://www.webdoithoai.net/.
Đài ĐLSN do LỰC LƯỢNG DÂN TỘC CỨU NGUY TỔ QUỐC (LLCQ) thực hiện, phát thanh mỗi đêm về Việt Nam, từ 9 giờ 30 đến 10 giờ tối, giờ Việt Nam, tức 7 giờ 30 đến 8 giờ sáng cùng ngày tại Los Angeles, Hoa Kỳ, trên làn sóng trung bình (AM), tần số 1503 kí lô chu kỳ (kHz). Đài BBC Luân Đôn đã từng phát trên tần số này, nhưng đã ngưng hoạt động từ cuối tháng 3 năm nay. Buổi phát thanh đầu tiên của Đài được phát vào ngày Chúa Nhật, 15 tháng 5, 2011.
Nhân dịp này, LLCQ kêu gọi các cơ quan truyền thông, các hội đoàn, và quý thính giả giúp quảng bá Đài phát thanh ĐLSN để tiếng nói của Sự Thật được lan tỏa nhanh chóng và rộng rãi khắp nơi .
Muốn biết thêm chi tiết về Đài, xin liên lạc ông Ngô Quốc Sĩ, Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ, Hội Đồng Điều Hợp Trung Ương, kiêm Giám đốc Đài phát thanh ĐLSN, địa chỉ: PO Box 612882, San Jose, CA 95161, USA, email: lienlac.dlsn@gmail.com, điện thoại: (408)663-9860.
by LTSA

HÀ NỘI (LÐ) - Sau cái chết của một phụ nữ nâng ngực mới đây, hầu hết thẩm mỹ viện tại Hà Nội gỡ bớt bảng quảng cáo treo dán đầy đường. Theo báo Lao Ðộng, đó là chiêu “rút vào hoạt động bí mật” của hàng chục cơ sở làm đẹp tại thành phố này.
Chỉ mấy ngày trước đó, các cơ sở thẩm mỹ tại Hà Nội chi chít những bảng quảng cáo “nâng ngực, hút mỡ bụng, mỡ đùi, căng da đùi, nâng mũi, nâng mông...” một cách công khai. Ðúng ra, họ chỉ được phép cắt mí mắt, xăm môi, xăm mí mắt.
Các bảng quảng cáo công khai này thu hút một số quý bà đến để làm đẹp mà không biết nguy hiểm đang chực chờ.
Ca tử vong mới đây nhất xảy ra tại phòng phẫu thuật thẩm mỹ ở đường GP, Hà Nội của Bác Sĩ Phạm Văn Ái hôm 30 tháng 4. Nạn nhân là một phụ nữ khỏe mạnh tên Bùi BL. Sau khi được cắt mi mắt, bà BL quyết định nâng ngực và chết vì bị sốc.
Cũng theo báo Lao Ðộng, để tránh cuộc bố ráp của chính quyền Hà Nội có thể diễn ra trong thời gian tới, tất cả các cơ sở giải phẫu thẩm mỹ lập tức tháo gỡ bảng quảng cáo dán, dựng công khai trên lề đường. Có cơ sở gỡ bỏ cả trang web trên mạng. Thay vào đó, họ thành lập các “văn phòng cố vấn” cho quý bà muốn tìm hiểu về việc có nên giải phẫu “phức tạp hơn” như hút mỡ bụng, nâng ngực... hay không.
Báo Lao Ðộng cho rằng đó là thủ thuật tránh né để không bị phạm luật của các cơ sở giải phẫu thẩm mỹ. Ðàng sau, nhân viên của họ vẫn mời mọc quý bà vào sâu bên trong cơ sở để phẫu thuật ngực, mũi...
Có cơ sở còn giải thích rằng họ gỡ bảng quảng cáo xuống để chuẩn bị “nâng cấp hoạt động cho hiện đại trở lại, chứ không dừng hoạt động giải phẫu thẩm mỹ cho những ai muốn làm đẹp ‘phức tạp.’”
Một vài cơ sở khác còn khoe có một danh sách bác sĩ có uy tín, tốt nghiệp các khoa thẩm mỹ thuộc các trường đại học ở Mỹ, Nam Hàn giúp quý bà “mở rộng vòng một, làm thon vòng hai” mà không hề gây đau đớn, cũng bảo đảm không biến chứng...”
Ðược biết các loại giải phẫu nâng ngực, hút mỡ bụng có giá từ 2,500 đến 4,000 Mỹ kim. Rất nhiều quý bà ở hải ngoại cho rằng đây là “giá hời” nên thi nhau về Việt Nam nâng ngực, sửa mũi, hút mỡ bụng, căng mông... Khổ nỗi, khách hàng không thể nào phân biệt được đâu là nơi an toàn, đâu là chỗ rủi ro.
Trong khi đó, cơ sở giải phẫu thẩm mỹ đầy dẫy, hoạt động hầu như công khai trước mũi chính quyền địa phương bất chấp nguy hiểm gây ra cho khách hàng. (PL)
by LTSA
Quả dừa nặng tới 9kg

Quả dừa này to gấp 3 - 4 lần so với những quả dừa bình thường, chứa trung bình 2,5 - 3,5 lít nước dừa.
Chủ nhân của quả dừa khổng lồ này là ông Nguyễn Văn Trung ở ấp Xóm Chòi, xã Kế An, huyện Kế Sách (Sóc Trăng). Theo ông Trung, đây là giống dừa Bị, cây dừa Bị này do cha mẹ ông trồng từ hơn 20 năm trước.
2. Củ khoai có hình dáng kì lạ ở Cà Mau

Không những có hình thù kỳ lạ, củ khoai này còn nặng tới... 25kg. Đã có rất nhiều người tới chiêm ngưỡng củ khoai độc đáo này và nhiều người đã liên tưởng nó đến vô số các hình dáng khác nhau ví dụ như là bàn tay hay thậm chí là bông sen mang tới điềm lành.
Thực chất đây chỉ là một củ khoai rất bình thường, do được trồng trong vùng đất giàu phân, thích nghi với loại cây có củ như khoai nên mới phát triển hơn mức bình thường mà thôi.
3. Quả đu đủ hình con thỏ ở Quảng Ngãi

Quả đu đủ này thuộc sở hữu của bác Nguyễn Vang (71 tuổi) ở thôn Hà Trung, xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh. Đây chỉ là một trong số những quả đu đủ hình "con thỏ" trong lứa đầu tiên của cây đu đủ bác Vang mới trồng mà thôi.
Tuy nhiên, trong lứa đu đủ đó cũng có vài quả hình dạng bình thường. Từ khi biết tin về quả đu đủ lạ kì, rất nhiều người dân trong thôn và vùng lân cận đã rủ nhau đến xem quả đu đủ hình con thỏ này.
4. Buồng chuối kì lạ 200 nải, dài đến 3m

Cây chuối trên được ông Nguyễn Mai mua ở tính Bến Tre, được trồng khoảng tháng 3/2009 đến tháng 6/2010 thì bắt đầu trổ buồng.
Đến nay buồng chuối dài hơn 3m, có khoảng 200 nải, mỗi nải có từ 15 - 30 quả. Trong đó có gần 1/2 số nải có quả to bằng ngón chân cái, dài từ 7 - 10cm, số còn lại thì nhỏ bằng ngón tay trỏ. Do buồng quá dài và nặng nên ông Mai đã dùng tre chống ở xung quanh thân cho cây chuối khỏi ngã.
5. Củ khoai có hình đài sen

Sáng 22/4/2011, trong khi thu hoạch khoai, chị Phạm Thị Ngọc Anh (đường Tô Hiến Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau) đã đào được của khoai có hình dáng giống một bông hoa sen.
6. Củ khoai hình bàn tay

Ông Đặng Văn Huấn trú tại xóm 2, xã Yên Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh), trong lúc làm vườn đã phát hiện củ khoai vạc có kích thước và trọng lượng lớn khổng lồ. Củ khoai nặng 11,5kg này nhìn rất giống hình bàn tay.
7. Bắp ngô trổ bông hình thù kỳ lạ

Bắp ngô có hình thù kỳ lạ này được phát hiện tại ruộng ngô của gia đình ông Đoàn Văn Thân ở Nghệ An. Thay vì kết hạt bình thường, bắp ngô này ra hạt có hình dạng rất kỳ lạ giống như những quả chuối, mỗi hạt dài khoảng 5 - 6cm, có màu xanh xám nhạt, xốp; các hạt còn lại trông nhỏ hơn một chút nhưng lại giống như những cây đang nhú mầm.
8. Cây đu đủ “treo” quả bằng dây

Cây đu đủ ở Quảng Nam này được trồng bình thường, tuy nhiên, khi lớn, nó chia làm 2 nhánh. Điều đặc biệt hơn là khi ra trái không gắn với thân mà vươn ra một dây dài từ 0,5 - 1m, lủng lẳng trái rất lạ mắt. Hiện cây đu đủ ra trái đều đặn, mỗi mùa hơn 100 trái và ra thường xuyên, trái chín và ngọt.
Thứ Năm, 19 tháng 5, 2011
by LTSA

Trưởng ban Bảo vệ Chính trị nội bộ chỉ trích...
HANOI (VB) -- Đảng CSVN thú nhận rằng suy thoái về đạo đức phẩm chất đã lan rộng trong giới cán bộ đảng viên, kể cả trong cấp Trung ương, thiếu năng lực, trình độ và phẩm chất, và vì tiêu cực đã phổ biến, nên niềm tin của dân đốâi với Đảng CSVN bị giảm sút nghiêm trọng, trong khi đó, nội bộ Đảng CSVN bị phân hoá, bè phái, cục bộ, quan liêu.
Đặc biệt chú ý trong bài viết là lời đánh giá chưa biết điều gì sẽ xảy ra đối với Đảng ta.
Lời tiết lộ hiếm hoi này đăng trên báo Người Cao Tuổi, nằm trong bài bình luận nhan đề Đảng ta đông mà không mạnh của ông Nguyễn Đình Hương, được giới thiệu là Nguyên Uỷ viên TW Đảng, Trưởng ban Bảo vệ Chính trị nội bộ Trung ương.
Bài viết của ông Hương trên tờ Người Cao Tuổi có những lời nói thẳng thắn về tình hình nội bộ Đảng CSVN, trích như sau:
Đảng ta đông mà không mạnh
Đại hội Đảng lần thứ XI diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới đang diễn ra nhiều vấn đề phức tạp, trong nước đã trải qua 25 năm đổi mới, tuy đạt được những thành tựu quan trọng đáng khích lệ, song còn nhiều thử thách phải vượt qua.
Công tác tổ chức và cán bộ đang đặt ra nhiều vấn đề bức xúc, giữa tích cực và tiêu cực đang tác động đan xen, nếu không dám nhìn thẳng vào sự thật để đánh giá đúng thực trạng tình hình nội bộ Đảng thì chưa biết điều gì sẽ xảy ra đối với Đảng ta...(...)
Hiện nay, Đảng ta đang đứng trước 3 thử thách.
1.Tình hình suy thoái về đạo đức phẩm chất trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên ngày càng sa sút nghiêm trọng, không chỉ là trường hợp cá biệt ở một địa phương, một ngành mà mang tính phổ biến ở nhiều cấp, nhiều ngành, cả địa phương và cả cấp Trung ương. Đảng ta đông mà không mạnh là như vậy.
2. Do tình hình tiêu cực trong nội bộ Đảng đang ngày càng diễn ra mang tính phổ biến, phức tạp, dẫn đến niềm tin của đảng viên chân chính và nhân dân đối với Đảng đang bị giảm sút nghiêm trọng.
3. Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, kể cả trong đội ngũ cán bộ đương chức đang bị phân hoá, bè phái, cục bộ, quan liêu, mà một trong những nguyên nhân quan trọng là: Do công tác sắp xếp, bố trí cán bộ lãnh đạo, đặc biệt là cán bộ chủ chốt chưa được sự đồng thuận của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tổ chức cấp trên đề bạt những cán bộ không đủ tiêu chuẩn cả đức và tài vào cấp ủy, giao trọng trách lớn trong bộ máy quản lí Nhà nước, nhưng không tương xứng về năng lực, trình độ và phẩm chất, nhân cách...(...)
Bài học từ thực tế của các Đại hội Đảng trước đây cho thấy, việc chọn lựa cán bộ tham gia vào cấp uỷ phải bảo đảm thực sự dân chủ, lắng nghe tiếng nói nhiều chiều, kể cả những ý kiến của quần chúng, của cán bộ lão thành, tránh tình cảm cá nhân, áp đặt để đưa cả con, cháu mình không đủ tiêu chuẩn vào cấp uỷ (đứng đầu ở địa phương, ở ngành Trung ương), hình thành một bộ phận cán bộ nhu nhược không dám đấu tranh, không có chính kiến, kiến thức kém, năng lực yếu, thiếu trí tuệ, nói nhiều làm ít, lợi dụng chức quyền để vụ lợi, làm giàu cho cá nhân, gia đình, cho vợ con mình...(hết trích)
Cũng cần nhắc rằng, tuy từng nắm những chuưc vụ lớn trong Đảng, tiếng nói của ông Nguyễn Đình Hương không được lắng nghe bao nhiêu.
Trên tờ Tuần Việt Nam năm ngoáí, có ghi lời ông Hương bàn về việc nhân sự của Đại hội Đảng XI, và đòi hỏi phải bầu trực tiếp chức Tổng bí thư Đảng, hiểu ngầm là để khỏi xảy ra kiểu móc nối, sắp xếp, chia phần, nhưng kết quả là chẳng ai nghe lời ông.
Bản tin Vua Hùng sợ ngày giỗ của mình và đội ơn ông Nghị ở... Hà Nội lúc đó có ghi: Ông Nguyễn Đình Hương, nguyên Phó ban tổ chức Trung ương có ý kiến về việc Đại hội bầu trực tiếp Tổng bí thư: Dân chủ, không áp đặt, không cơ cấu vùng miền. Đây có lẽ là phương án tối ưu và đáp ứng được yêu cầu về tiêu chuẩn của nhân sự hiện nay.
by LTSA

ừng Phật đản năm 2011 (Phật lịch 2555), vào tối 16-5, gần 30 chiếc xe hoa có chung chủ đề Phật giáo của một số chùa lớn, các ban đại diện Phật tử địa phương, hội từ thiện thuộc các quận, huyện của Sài Gòn đã diễu hành trên các ngã đường của thành phố. Tất cả xe hoa tập trung tại công viên Gia Định (đường Hoàng Minh Giám, quận Gò Vấp), lộ trình diễn hành là qua một số đại lộ và giải tán trước văn phòng Thành hội Phật giáo TP Sài Gòn (Tổ đình Ấn Quang - quận 10). Bằng nhiều kiểu khác nhau, các xe hoa đều được trang hoàng lộng lẫy. Tiếc là do xuất phát vào giờ cao điểm chiều tối, đoàn xe hoa, xe lân chỉ có thể di chuyển giữa dòng xe cộ dày như mắc cữi một cách chậm chạp, lựng khựng, khi đi khi dừng nên đã xảy ra kẹt xe, ùn tắc lâu nhất là ở khu ngã tư Hoàng Minh Giám - Phổ Quang (gần cổng chùa Phổ Quang). (Photo VB)
by LTSA

San Jose (VietPress USA): Chùa Bảo Phước thuộc Văn Phòng II Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ, sẽ tổ chức Đại Lễ Mừng Phật Đản 2635 và Lễ Đặt Viên Đá Đầu Tiên xây dựng Ngôi Đại Hùng Bảo Điện Chùa Bảo Phước vào lúc 10:00am sáng Chủ Nhật 22-5-2011 (nhằm ngày 20 tháng 4 năm Tân Mão) tại số 270 Senter Road, San Jose, CA 95111.
Thư Mời do Trụ Trì Thích Viên Dung ký gởi đến báo Chí, Truyền Thông, các Chư Phật Tử cùng đồng hương San Jose và Bắc california đã ghi rằng Mỗi năm đến mùa sen nở là tất cả nhân loại chào đón kỷ niệm Đản Sanh của Đức Từ Phụ. Và đây là một dịp để chúng ta ôn lại những thành tựu đã qua và cố gắng cho những hy vọng mới.
Theo chương trình đính kèm, sẽ có 2 ngày liên tiếp:
- Thứ Bảy 21-5-2011 (19 tháng 4 Tân mão):
7:00pm Khóa Lễ Cầu An.
8:00pm Lễ Cúng Chư Hương Linh.
8:45pm Dùng Tối.
-Chủ Nhật 22-5-2011 (20 tháng 4 Tân Mão):
10:00am Lễ Đặt Viên Đá Đầu Tiên xây dựng Đại Hùng Bảo Điện.
Thứ Ba, 17 tháng 5, 2011
by LTSA

Trung Tá Lục Quân Phạm Phan Lang là phu nhân của một cựu Thiếu Tá Hải Quân VNCH
Người Việt hải ngoại, có lẽ ít ai được biết: Người phụ nữ Mỹ gốc Việt mang cấp bậc Trung Tá đầu tiên của Quân Lực Hoa Kỳ, là phu nhân của một cựu Thiếu Tá Hải Quân VNCH, di tản sang Mỹ cùng chồng và ba đứa con vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến Việt Nam : Trung Tá Lục Quân Lang Phan Phạm (đã nhận thông báo sẽ thăng cấp Đại Tá, trước khi xin về hưu).
Phạm Phan Lang sinh ra và cả một thời tuổi thơ sống cùng gia đình ở Nha Trang, theo học tại trường Nữ Trung Học và Võ Tánh. Nha Trang là thành phố biển thơ mộng, nơi có hai quân trường nổi tiếng: Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, với những chàng trai hào hoa theo nghiệp kiếm cung, chọn cuộc đời bay bổng và hải hành. Những chàng trai này đã một thời khốn khổ trái tim bởi bao nhiêu người đẹp của Nha Trang. Thời ấy, dường như những cặp tình nhân SVSQ Hải Quân và Nữ Sinh Trung Học Nha Trang là những đôi tình nhân làm đẹp phố phường nhất. Trong số đó có đôi uyên ương Phạm văn Diên và Phan Thị Lang. Ngày ấy Lang là một cô bé khá xinh, tính tình hiền dịu dễ thương, nên mới học Đệ lục là đã làm mê mệt chàng SVSQ họ Phạm. Cuộc tình kéo dài mãi đến khi Lang đậu xong tú tài 2 (năm1969) hai người mới làm đám cưới.
Anh Phạm văn Diên tốt nghiệp khóa 14 HQ (Đệ Nhị Kim Ngưu), trước ngày 30/4/75, mang cấp bậc Thiếu Tá và chỉ huy một chiến hạm PGM615 (loại nhỏ).
Vào nửa đêm 29.4.75, Thiếu Tá Diên đưa chiến hạm rời khỏi Việt Nam, mang theo vợ, 3 đứa con nhỏ, 1, 3 và 5 tuổi, cùng cha mẹ già trên tuổi 70 và cậu em vợ, đang theo học đại học Luật Khoa Sài Gòn. Ngoài gia đình, trên tàu còn có thủy thủ đoàn và khoảng hơn 150 người tị nạn khác. Chiến hạm của Thiếu Tá Diên vừa tham dự các cuộc hành quân tàn khốc cuối cùng tại Huế, Quảng Trị,Vùng I, chưa kịp sửa chữa, bảo trì, nên lúc ra khơi bị hư hỏng và nước tràn vào, nhưng may mắn đã được cứu bởi một tàu HQ khác mà Thiếu Tá Diên đã liên lạc được. Cũng trên chuyến đi này, gia đình bị mất hết tư trang, vàng bạc mang theo, nên lúc lên bờ chỉ còn hai bàn tay trắng.
Cũng như nhiều gia đình khác, thời gian đầu đến Mỹ rất vất vả, vợ chồng Thiếu Tá Diên phải làm đủ nghề để sống: thợ mộc,thợ hồ, rửa bát đĩa cho nhà hàng, tiệm ăn, dạy Anh ngữ cho trẻ em Việt Nam ở một trường Tiểu Học, nhổ cỏ trong những cánh đồng cà, hái trái cây, trông nom một trại gà với hơn 60.000 con. Với tính kiên nhẫn và nghị lực, cả hai vợ chồng và cậu em vừa làm vừa theo học chương trình đại học tại University of Maryland, Eastern Shore.
Đường Vào Binh Nghiệp
Năm 1980, chị Phạm Phan Lang đậu được cùng lúc hai bằng Cử nhân, trong đó có bằng Nutrition and Dietetics (Dinh Dưỡng Học). Muốn làm việc trong ngành này, cần phải qua một khóa Thực Tập Dinh Dưỡng ( Dietetic Internship). Chị Phạm Phan Lang đã nộp đơn xin thực tập ở một số trường đại học, trong đó có cả Chương Trình Thực Tập Dinh Dưỡng của Lục Quân Hoa Kỳ (US Army Dietetic Internship).
Lúc bấy giờ, chương trình Thực Tập Dinh Dưỡng của Army đòi hỏi khá nhiều điều kiện khó khăn: điểm trung bình tối thiểu là 3.5, phải là công dân Hoa Kỳ, phải dưới 30 tuổi, phải có ít nhất là 3 lá thư giới thiệu, cùng một số điều kiện khác. Trong số những điều kiện này, ít nhất có hai điều chị Phạm Phan Lang không có, đó là quốc tịch Hoa Kỳ và đã trên tuổi 30. Tuy nhiên, do trường hợp khá đặc biệt và có lẽ do thán phục nghị lực và khả năng của một người đàn bà tị nạn, cuối cùng chị đã được chấp nhận vào chương trình này. Đây là một trường hợp ngoại lệ đặc biệt mà theo chị, mãi đến sau này, vị Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng của Army Dietetic Internship đã cho chị biết.
Mặc dù lúc ấy, chị Phạm Phan Lang cũng được nhận vào thực tập ở một số trường đại học khác, nhưng chị đã chọn Chương Trình Army này. Chị cho biết, chị chọn Army không phải vì chị yêu đời lính, hay “muốn đi lính”, mà chỉ vì những lý do rất đơn giản: chương trình thực tập rất tốt, nổi tiếng, dễ dàng tìm việc làm sau khi rời quân đội, cả gia đình được hưởng quyền lợi, và nhất là chỉ phải “đội mũ lính và mang lon” có 3 năm. Sau đó, nếu muốn, có thể xin giải ngũ. Đã có hơn một trăm đơn xin vào chương trình này, nhưng cuối cùng chị nằm trong số 10 người được chọn. Chị khiêm nhường cho là may mắn, nhưng tất nhiên điều quyết định vẫn là do khả năng, kết quả bao năm kiên nhẫn học hành của chị.
Chị Phạm Phan Lang bắt đầu binh nghiệp bằng cấp bậc Thiếu Úy. Hai tháng đầu tiên được thực tập quân sự tại quân trường Fort Sam Houston (FSH), San Antonio, Texas. Vì là ngành Quân Y, nên những thực tập quân sự rất nhẹ so với những binh chủng khác. Tuy nhiên, chị cũng phải tập bắn các loại súng, trèo đồi, lội suối, tập trận, hành quân, đọc bản đồ, sử dụng địa bàn một mình giữa rừng sâu.
Sau một năm thực tập Dinh Dưỡng tại Brooks Army Medical Center (BAMC), FSH, San Antonio, TX, chị tốt ngiệp, được thăng cấp Trung Úy và nhận nhiệm sở đầu tiên tại Moncrief Army Medical Activity, Fort Jackson, Columbia, SC. Và cũng tại đây một biến cố lớn đã xảy ra mang đến điều bất hạnh lớn lao nhất cho cuộc đời của chị sau này...
Columbia là thủ phủ của Tiểu Bang South Carolina, có khoảng 300-400 người Việt định cư lúc bấy giờ. Thời ấy người Việt sống rải rác trong thành phố Columbia và các thành phố phụ cận như Greenville, Charleston, Myrtle Beach, Charlotte, Atlanta... Mọi người đều cố gắng làm việc để hội nhập và thích nghi với đời sống mới, nên chẳng ai quen biết, tiếp xúc nhiều với ai. Vợ chồng anh chị Phạm văn Diên & Phạm Phan Lang đã cùng một số thân hữu tích cực vận động thành lập Hội Ái Hữu Người Việt đầu tiên ở Columbia, mở trường dạy Việt Ngữ, tổ chức những ngày lễ hội truyền thống như Giỗ Tổ Hùng Vương, Tết Trung Thu, Tết Nguyên Đán v.v.., gây quỹ cứu trợ thuyền nhân, tranh đấu cho nhân quyền, tự do ở Việt Nam. Cựu Thiếu Tá Diên hoạt động rất hăng say (chị Phạm Phan Lang chỉ hỗ trợ tích cực sau lưng, vì Quân Đội Hoa Kỳ không cho phép quân nhân tham gia vào bất cứ hoạt động chính trị nào). Phu quân của chị, anh Diên, đi khắp các thành phố lân cận, giao kết bằng hữu, giúp thành lập các Hội Ái Hữu địa phương, nêu cao tinh thần chống Cộng…
Biến Cố Lớn Trong Đời
Hôm đó là ngày lễ Độc Lập Hoa Kỳ, July 4, 1985. Lúc này chị Phạm Phan Lang đang ở trong Quân Đội Hoa Kỳ được gần 5 năm và mang cấp bậc Đại Úy. Khi nhận được Sự Vụ Lệnh thuyên chuyển về lại BAMC, FSH, TX, chị dự định đây sẽ là nhiệm sở cuối cùng của chị. Sau khi chấm dứt quân vụ ở nhiệm sở này, chị sẽ xin giải ngũ. Mấy ngày trước Lễ July 4, gia đình anh chị rất bận rộn tham dự tiệc tùng do các bạn hữu ở Columbia và các thành phố lân cận tổ chức tiễn đưa, hơn nữa chị đang trong thời kỳ học thi tốt ngiệp Thạc sĩ (Master Degree), nên chị khá mệt mỏi. Nhưng vì nể lời mời của một người bạn, cựu Trung Tá HQ ở Charleston, SC, vợ chồng anh chị nhận lời tham dự một buổi tiệc picnic ở bờ biển Foley Beach, SC. Chỗ này cách Columbia, nơi gia đình anh chị ở, khoảng 3 giờ đồng hồ lái xe. Cùng với gia đình anh chị 5 người, còn có 4 gia đình khác. Tổng cộng có 5 cặp vợ chồng và 13 đứa trẻ con, tuổi từ 9-15. Lúc ấy trời còn sớm, khoảng 8 giờ sáng, trên biển không một bóng người, ngoại trừ họ. Và tại nơi đây tại nạn đã xảy ra.
Mười ba đứa trẻ con vừa thấy biển đã nao nức chạy ùa ra bơi lội. Nước bên bờ biển lúc ấy mới cao bằng đầu gối. Các ông bố cũng vội vàng theo mấy đứa nhỏ, vừa để trông chừng vừa sửa soạn mắc mồi câu cua. Đàn bà thì lê mê khiêng thức ăn, nước uống từ trên xe xuống. Bỗng có tiếng kêu cấp cứu từ biển vọng vào, chị hoảng hốt nhìn ra, thì hỡi ôi, 13 đứa trẻ đã bị sóng ngầm (undertow) cuốn ra xa, và mấy ông bố đang vội vàng bơi ra để cứu con. Chị Lang không biết bơi, nên vội vã chạy ngược vào bờ một quãng khá dài, kêu cứu. Nhưng trời còn sớm quá, và khu này vì nổi tiếng nguy hiểm sóng ngầm (sau này mọi người mới biết) nên chẳng có ai ra biển. Kêu cứu một lúc không được, chị vội chạy trở lại biển. Lúc ấy một vài đứa trẻ lớn tuổi hơn đã bơi vào hoặc được mấy ông bố đưa vào bờ. Đang lúc dáo dác tìm kiếm mấy đứa con, chị thấy một người đàn bà Mỹ, không biết ra biển lúc nào, đang hì hục kéo anh Diên, chồng chị, lên bờ. Hai mắt anh nhắm chặt, mặt tái nhợt, môi tím ngắt và dường như không còn thở nữa. Dù kinh hoàng, đớn đau và sợ hãi, nhưng với những kinh nghiệm và bình tĩnh của một người lính, chị đã cố gắng làm hô hấp nhân tạo cho anh, được một người bạn bác sĩ trong nhóm phụ giúp, nhưng phu quân của chị vẫn không hồi tỉnh. Khi đưa vào bệnh viện Charlerston, vị bác sĩ cấp cứu, sau khi khám và thử nghiệm EEG (electroencephalogram), đã buồn bã cho chị biết : “Ông nhà đã bị chìm xuống biển khá lâu, trên 10 phút, nên não bộ không còn làm việc nữa ( irreversible brain damage), xin chị đừng nuôi hy vọng”.
Một tháng sau, anh Diên đã trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viên quân sự nơi chị làm việc ở Fort Jackson, SC. Anh ra đi để cho đứa con gái út, lúc ấy 11 tuổi, và hai đứa bé nữa, 9 và 12 tuổi, được sống. Nếu chỉ muốn cứu một mình đứa con gái của mình, anh đã có thể làm được, nhưng anh không nỡ lòng bỏ cả bốn đứa bé đang cố bám víu vào nhau để khỏi bị sóng đánh trôi đi. Anh đã cố cầm cự đưa bốn đứa bé vào gần bờ, nhưng bị các em ôm chặt lấy anh, vì uống nước quá nhiều và sợ hãi đến cùng cực, không chịu buông tay chân anh ra. Cuối cùng, không chống chọi được, anh từ từ chìm xuống lòng biển trước đôi mắt đớn đau kinh hoàng của đứa con gái. Và vì không còn chỗ để bám víu, nên một đứa bé gái khác, 11 tuổi, bị sóng biển đánh dạt ra xa, mãi đến mấy tiếng đồng hồ sau mới tìm thấy xác.
Báo chí đã ca tụng, mọi người đều ngậm ngùi ngưỡng mộ anh như một anh hùng. Thượng Nghị Sĩ South Carolina lúc bấy giờ, ông Strom Thurmond, đã ban bằng tưởng thưởng. Nhưng tất cả những thứ ấy đều vô nghĩa đối với chị Lang, bởi chị đã mất vĩnh viễn người chồng yêu quí của chị, ba đứa con trong tuổi dại khờ của chị đã không còn người cha thương yêu gương mẫu. Không có điều gì có thể thay thế được.
Một khúc quanh trong binh nghiệp:
Chị đã xin hủy bỏ Lệnh Thuyên Chuyển về Texas và xin ở lại Fort Jackson thêm một năm nữa để có thể sớm hôm lui tới mộ chồng. Trong quân đội Hoa Kỳ, kể cả ngành Quân Y, thông thường thì cứ mỗi 3 năm, một Sĩ Quan được chuyển đến nhiệm sở mới. Chị được ở lại Fort Jackson đến 5 năm. Đây cũng là một trường hợp ngoại lệ đặc biệt khác. Chị cũng bỏ ý định giã từ quân ngũ. Vì bây giờ, quân đội là nhà của chị, đã che chở và cưu mang chị, cho chị phương tiện tài chánh để nuôi các con ăn học nên người. Quân đội cũng đã rèn luyện chị trở thành một người có can đảm và nghị lực hơn để chống chọi với bao nhiêu thử thách của cuộc đời mà chị vừa mới trải qua cũng như đang chờ trước mặt.
Thời gian thấm thoát trôi qua, chị đã phục vụ trong ngành Quân Y Lục Quân Hoa Kỳ được 22 năm. Trong khoảng thời gian này chị đã thay đổi nhiệm sở 7 lần, Ngoài Fort Sam Houston, TX, và Fort Jackson, SC, chị đã đổi về các bệnh viện ở Fort Gordon,GA; Fort Huachuca,AZ; Fort Ord,CA; Madigan Army Medical Center, WA; Landstuhl Regional Medical Command, Germany; và cuối cùng là Tripler Army Medical Center ở Hawaii. Tại đây, công việc của chị là điều hành Phân Khoa Dinh Dưỡng (Director, Nutrition Care Division) với trên 100 nhân viên dưới quyền, vừa sĩ quan, hạ sĩ quan và dân sự. Ngoài ra, chị còn có nhiệm vụ Cố Vấn và Giám Sát những phần hành Dinh Dưỡng trong các đơn vị Lục Quân trú đóng ở Thái Bình Dương, đặc biệt là Nhật Bản và Nam Hàn ( Nutrition Consultant, Pacific Region). Và cũng ở nhiệm sở này, năm 2002, chị Phạm Phan Lang nhận được Thông Báo sẽ thăng cấp Đại Tá. Thông thường thời gian từ lúc nhận Thông Báo đến lúc được thực sự “ gắn lon” cho cấp bậc Đại tá trong ngành Quân Y là khoảng từ 6 tháng đến 1 năm. Đến lúc ấy chị đã làm việc tại nhiệm sở Hawaii được 3 năm, nên đã đến lúc phải thuyên chuyển đến một nhiệm sở mới, mà chị biết sẽ là Hoa Thịnh Đốn.
Trung tá Phạm Phan Lang không muốn phải về Hoa Thịnh Đốn, cũng chẳng muốn rời khỏi Hawaii. Bởi ở Hawaii có cây xoài, cây mít, cây mảng cầu, khế, ổi, nhãn lồng…Hawaii cũng có những hàng dừa xanh, biển ấm quanh năm và cư dân rất hiền hòa, hiếu khách. Hawaii đã cho chị sống lại với những hình ảnh yêu dấu của Nha Trang, nơi chôn nhau cắt rốn, cũng là nơi chị đã gặp, yêu và làm vợ người lính biển lãng mạn nhưng can đảm hào hùng Phạm văn Diên.
Cuối cùng chị đã không chọn cấp bậc đại tá, mà chọn Hawaii với biển ấm tình nồng, mang bóng dáng miền quê hương thùy dương cát trắng của chị..
Những Chuyện Bên Lề về Tuổi Thơ, Tình Yêu và Cuộc Đời của Cô Nữ Sinh Trường Nữ Trung Học và Võ Tánh Nha Trang.-
Phan Thị Lang chào đời vào một buổi sáng mùa thu năm 1950 tại thành phố Nha Trang. Cha mẹ và đặc biệt là bà nội rất đỗi vui mừng, vì đây là đứa con gái đầu tiên của gia đình và cũng là đứa cháu gái đầu tiên của giòng tộc họ Phan. Cha mẹ muốn đặt tên cho con gái mình là Linh Lan, tên một loài hoa mà ông bà rất thích, nhưng bà nội không chịu, vì bà tin rằng, đặt tên cho con gái bằng tên một loài hoa là không tốt, vì hoa sẽ “ sớm nở tối tàn”, cho nên bà nội bắt phải đổi tên Linh Lan thành Lang, để biến nghĩa thành cũ khoai… lang. Như vậy đời cô cháu gái sẽ tốt hơn.
Cha mẹ Lang sinh tất cả là 7 người con,nhưng mấy ông anh đầu đã mất đi trong chiến tranh loạn lạc, sau cùng chỉ còn lại ba anh em, người anh là Phan Ngọc Châu, cựu học sinh Võ Tánh ( 1B2/VT 63-64), rất chăm chỉ và học giỏi, sau này vào trường Sĩ Quan Thủ Đức và tử trận năm 1968 tại Bình Dương. Anh Phan Ngọc Châu có một chuyện tình thật buồn với một người đẹp ở trường Nữ Trung Học, quê cũng ở Vạn Giã, Hai người không lấy nhau được do một trắc trở về chuyện họ hàng. Anh Châu sống những ngày u buồn và khi chết đi đã mang theo mối u tình này xuống lòng huyệt mộ. Người em trai, Phan Hà, sau khi học xong ở Võ Tánh, theo vợ chồng Lang vào Sài gòn học luật, rồi cùng di tản sang Mỹ vào đêm 29.4.1975. Hiện Hà đang sống ở Columbia, SC.
Ba má Lang là người Vạn Giã. vào Nha Trang làm ăn sinh sống từ thuở thiếu thời, nối nghiệp xây cất của ông nội, rồi làm nghề thầu khoán. Sau này ông trở thành nhà thầu nổi tiếng ở Nha Trang, từng xây nhà cho các tướng Đỗ Mậu, Tôn Thất Đính, và nhiều ngôi biệt thự sang trọng khác trên đường Biệt Thự, Duy Tân.
Cô bé Lang lớn lên trong sự cưng chiều của cả gia đình, nhất là bà nội, nên cô bé rất “hư”, nhõng nhẽo và lười học.Trong nhà, cô bé chỉ sợ có mỗi anh Châu, vì lúc nào anh ấy cũng trầm tĩnh, nghiêm nghị, ít nói và rất chăm học. Cô bé thường cố tình lẫn tránh, vì hễ mỗi lần bắt gặp cô em gái, là anh bắt phải học, một điều mà lúc còn ở tiểu học, cô bé thấy như là một cực hình.
Vì lười học, nên năm lớp Nhì ở trường tiểu học Sinh Trung, cô bé bị ở lại lớp. Cả một năm ở lại lớp Nhì ấy, cô bé thật ê chề và xấu hổ.Vì hễ có một đứa học trò nào lười biếng là cô giáo lại đem Lang ra làm ví dụ. Nhờ vậy mà từ đó, Lang quyết tâm học cho giỏi. Mùa hè đến, Lang theo anh Châu về quê nội ở Vạn Giã, để được ông anh dạy kèm cùng với mấy đứa con ông chú, bà cô, đặc biệt các môn toán đố, hình học..
Sau hè, trở lại trường, Lang được lên lớp Nhất.Và suốt cả năm lớp Nhất, tháng nào Lang cũng được lãnh Bảng Danh Dự, và cuối năm khi thi vào lớp Đệ Thất trường Nữ Trung Học, cô bé đậu hạng thứ 10 trong số rất đông thí sinh ở Nha Trang và từ các nơi khác về dự thí. Lang vào Đệ Thất năm 12 tuổi. Lên Đệ Tam chọn Ban C. Năm 1968, Lang đỗ Tú Tài I hạng Bình Thứ. Anh Châu từ chiến trường xa xôi, nghe tin, vội vã xin phép về thăm gia đình và chúc mừng cô em gái. Không ngờ đó lại là lần cuối cùng hai anh em nhìn thấy mặt nhau. Anh Châu đã tử trận đúng một tuần sau khi trở về đơn vị. Năm Đệ Nhất C, Lang phải chuyển sang học bên trường Võ Tánh, vì trường Nữ Trung Học không đủ lớp. Sau khi đậu Tú Tài II năm 1969, Lang là người đầu tiên trong đám bạn bè cùng lớp “theo chồng bỏ cuộc chơi”. Anh Châu, người anh duy nhất và rất thương mến Lang, không còn nữa để dự đám cưới của em mình. Đó là sự mất mát và hụt hẫng to lớn của Lang trong ngày bước theo chồng.
Phạm Phan Lang
Lang gặp anh Diên, Phạm văn Diên, lần đầu tiên vào ngày mồng 6 Tết Âm Lịch, lúc Lang chỉ mới tròn 13 tuổi , đang học lớp Đệ Lục. Hôm đó là ngày Thứ Bảy, nên phố xá đầy dẫy những anh chàng SVSQ Hải Quân và Không Quân. Không hiểu sao lúc ấy Lang “không ưa” Hải Quân, nên khi bị hai anh chàng HQ đi kèm hai bên Lang và một cô bạn, trong lúc dạo phố mua hàng, tán tỉnh, Lang vừa sợ vừa mắc cỡ, vừa ghét nữa, nên không mở miệng nói một lời. Anh Diên đi bên cạnh, biết Lang sợ và e thẹn, nên ôn tồn nhỏ nhẹ gợi chuyện. Anh Diên nói tiếng Bắc, gọi Lang bằng “bé”. Theo Lang về gần đến nhà cô bạn cùng đi, cũng là một tiệm ăn, Diên đã hỏi Lang : “ Bé ơi, đường nào ra biển, hở bé”. Nghe hỏi, Lang bỗng phì cười. Hải Quân mà hỏi đường nào ra biển. Nào ai có biết, đó lại là câu nói định mệnh của đời Diên sau này.
Kể từ hôm ấy, cứ mỗi lần “đi bờ” là anh Diên đến ngồi ở quán của cô bạn, chờ bé Lang đạp xe đi qua. Vì quán ăn nằm ngay góc đường đến nhà Lang. Cứ như thế cho mãi đến năm 1965, anh Diên tốt nghiệp Khóa 14 HQ/ Đệ Nhị Kim Ngưu.
Một hôm, Diên ngỏ ý xin phép Lang được đến nhà thăm ba má và ông anh, làm cô bé Lang hoảng sợ đến muốn khóc, lắc đầu lia lịa, vì nghĩ tới sự nghiêm khắc của cha mẹ, đặc biệt là anh Châu của mình, nên bảo là “Anh mà tới nhà, chắc thế nào Lang cũng bị đòn, không được đâu!” Nghe nói thế, Diên chỉ âu yếm nhìn Lang mỉm cười và bảo là “bé đừng sợ”. Cuối tuần sau, Diên đến nhà thật, gặp ba má và anh Châu của Lang. Và chẳng biết làm thế nào mà Diên thuyết phục được ông anh khó tính của Lang, để được “chính thức” tới thăm gia đình Lang . Dù vậy, Diên cũng chỉ dám tới nhà mỗi tháng một lần và cũng hiếm khi được ngồi riêng để nói chuyện với Lang. Hôm trước ngày tốt nghiệp ra trường, Diên đến thăm để từ giã gia đình Lang. Sau khi nói chuyện với ba má và anh Châu, Diên xin phép được lên lầu để từ giã Lang. Lúc ấy cô bé đang ngồi đan áo trên sân thượng, dưới giàn nho đầy quả chín. Lần đầu tiên, Diên nắm lấy tay Lang, nhìn thật sâu vào mắt Lang, dịu dàng nói “Bé ơi, anh rất yêu bé và muốn cưới bé làm vợ, nhưng bé hãy còn nhỏ quá, nên anh phải đợi cho bé lớn lên. Ngày mai anh đi rồi, không biết bao giờ mới về thăm bé được, nhưng anh sẽ viết cho Bé mỗi ngày một lá thư. Bé ráng đợi anh nghe!”. Nói xong, Diên cúi xuống, nhẹ nhàng hôn lên đôi bàn tay run rẩy và ướt đẫm nước mắt của Lang.
Và chàng đã giữ đúng lời hứa, mỗi ngày một lá thư gởi về cho Lang đều đặn, và chờ Lang lớn lên. Họ đã làm đám cưới vào mùa Thu 1969, sau khi Lang đỗ Tú Tài II. Lúc ấy Lang vừa 19 và Diên đã 27 tuổi đời. Hành trang về nhà chồng của Lang, ngoài một số áo quần, còn lại là một vali chứa đầy những lá thư của Diên.
Hơn mười năm, sau ngày cả nhà di tản sang Mỹ, anh Diên mất đi trong một tai nạn bi thảm, để lại cho Lang ba đứa con dại tuổi chỉ từ 11 đến 15. Lang đã chọn ở lại quân đội để có điều kiện lo lắng cho các con. Sau này cả ba cháu đều thành đạt. Cô gái út, ngày rời Việt Nam vừa đúng 1 năm 1 tháng tuổi. Năm 11 tuổi tận mắt chứng kiến cái chết đau đớn của cha mình. Sau này được vào Stanford University, một đại học nổi tiếng của Hoa Kỳ, và được bầu làm Chủ Tịch Hội Sinh Viên Việt Nam của trường. Sau khi đậu bằng Thạc sĩ ngành Kinh Tế/Phát Triển Điều Luật Quốc Tế (Economics/International Policy Development) năm 1997, cháu lấy thêm bằng Thạc Sĩ Quản Trị Thương Mại (Master of Business Administration) ở University of California at Berkeley (Haas School of Business). Hiện nay là Senior Product Marketing Manager của Google.
Năm 2002, sau khi chu toàn trách nhiệm của một người mẹ với các con, một sĩ quan cao cấp đối với Quân Lực Hoa kỳ, đúng một ngày sau khi về hưu, Phạm Phan Lang làm đám cưới với người chồng mới. Anh là môt người Mỹ, lớn hơn Lang 7 tuổi. Là một người hiền lành, thật thà và độ lương. Trước kia là một Sĩ Quan Không Quân trong Quân Lực Hoa Kỳ. Rời quân ngũ, anh đi học lại và lấy bằng Ph.D rồi dạy tại trường University of Hawaii, và sau này đã làm việc cho US Navy/Submarine, Pearl Harbor Hawaii trong hơn 30 năm với chức vụ Oceanographer/Technical Director cho đến ngày về hưu, cách đây hai năm.
Phạm Phan Lang cùng chồng đang sống những ngày tháng êm đềm ở thành phố Kaneohe trên hòn đảo Oahu / Hawaii thần tiên. Mỗi ngày, trong nắng ấm, nhìn biển trời, nghe sóng biển rì rào, Lang da diết nhớ về Nha Trang, về những ngày tuổi thơ cùng với gia đình, thầy bạn, và hồi tưởng về một quá khứ với biết bao thăng trầm biến đổi của quê hương, của gia đình và của cả một đời người.
(Ghi chú của người viết : Khi liên lạc với Phạm Phan Lang để viết bài này, bất ngờ người viết nhận ra Lang chính là cô em gái của Phan Ngọc Châu, người bạn thân cùng quê Vạn Giã, cùng lớp ở trường Văn Hóa Nha Trang, trong những năm đầu trung học.Cứ mỗi mùa hè, người viết lại gặp hai anh em, dắt díu nhau về thăm quê nội. Khi ấy Lang mới chỉ học lớp Nhì, nhưng đã là một cô bé rất thông minh và thật xinh xắn dễ thương)
(viết theo lời tâm tình của Phạm Phan Lang)
Phạm Tín An Ninh
by LTSA

THANH HÓA (TH) - Tỉnh Thanh Hóa, hôm Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011, đã tổ chức một cuộc “diễn tập phương án xử lý tình huống gây rối, gây bạo loạn, đánh bắt khủng bố, giải cứu con tin” qui mô.
Cuộc diễn tập quy mô này được cho là lần đầu tiên diễn ra tại tỉnh Thanh Hóa, nơi mà gần 1/4 triệu người ở các huyện dọc theo miền biển đến miền núi, hiện đang phải đối mặt với cái đói vì mùa màng thất bát và người nông dân mất đất.
Theo tin của báo Thanh Hóa, cuộc diễn tập được chỉ thị từ Thủ tướng Chính phủ nhằm bảo vệ cuộc bầu cử Quốc Hội khóa 13.
Tin cho hay, cuộc diễn tập có sự chứng kiến và “chỉ đạo: của Trung Tướng, Thứ Trưởng Bộ Công An Ðặng Văn Hiếu, Bí Thư Tỉnh Ủy Thanh Hóa Trịnh Văn Chiến cùng nhiều cơ quan và lực lượng khác nhau.
Không thấy báo Thanh Hóa mô tả chi tiết cuộc diễn tập nhưng các hình ảnh cho thấy các lực lượng cứu hỏa dập lửa, cảnh sát cơ động dàn hàng chống bạo loạn và có cả xe thiết giáp tham gia diễn tập.
Hồi cuối tháng 2, 2011, một cuộc diễn tập tương tự cũng được tổ chức tại thành phố Phan Thiết của tỉnh Bình Thuận với 500 sĩ quan và binh lính tham gia.
Trước đó, một cuộc diễn tập qui mô có cả tàu, máy bay trực thăng với hơn một ngàn cán bộ nhiều ngành khác nhau tập luyện “chống khủng bố, giải cứu con tin” ngay ở sông Hồng, Hà Nội ngày 10 tháng 11, 2010.
Cuộc tập luyện “chống gây rối, gây bạo loạn” ở Thanh Hóa được tiến hành chỉ ít ngày sau khi nhà cầm quyền Hà Nội giải quyết xong một vụ mà họ gọi là “tụ tập trái phép” ở Mường Nhé tỉnh Ðiện Biên với số lượng người tham dự có thể từ hơn 5 ngàn đến hơn 8 ngàn người.
Theo một số nguồn tin không chính thức, nhà cầm quyền Việt Nam đã phải điều động một lực lượng quân sự nhiều hơn một trung đoàn có cả chiến xa và trực thăng yểm trợ để đối phó với cuộc biểu tình người Hmong.
Cùng với cuộc diễn tập “chống gây rối, gây bạo loạn” nhằm đối phó với dân, báo Thanh Hóa hôm Thứ Hai, 16 tháng 5, 2011 phỏng vấn ông Vương Văn Việt, phó chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa. Ông này loan báo số gạo cứu đói cho dân sắp được cấp phát.
Nạn nói kinh niên ở Thanh Hóa một phần, theo báo điện tử của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn ngày 13 tháng 5, 2011, là do nhà cầm quyền cưỡng bách dân đóng thuế quá nặng đến độ họ không còn gì để sống. Vừa thu hoạch vụ mùa xong, từ thôn tới xã tới siết thuế và đủ các loại “phí” làm người nông dân bắt đầu phải đi vay nợ mới từ đây.
Sự đói khổ quá sức chịu đựng vì sưu cao thuế nặng hoặc sự đàn áp tôn giáo dễ dẫn tới bạo động, có thể là nguyên nhân thúc đẩy nhà cầm quyền độc tài đảng trị tại Hà Nội luôn luôn nghĩ tới các bài bản đối phó với quần chúng.
Báo điện tử Nông Nghiệp Việt Nam của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đưa tin từ ngày 27 tháng 4, 2011 rồi một số báo như Tuổi Trẻ, Sài Gòn Tiếp Thị cũng tìm hiểu và đưa tin, viết phóng sự chứng tỏ nạn đói ở Thanh Hóa có thật và cần cứu đói khẩn cấp.
Gần 3 tuần lễ sau thì ông Việt đại diện nhà cầm quyền tỉnh mới nói sắp có gạo. Ông cũng không quên chỉ trích một số huyện đã báo cáo láo khi sử dụng “số liệu cứu trợ trong dịp tết Tân Mão vừa qua để báo cáo.” (TN)
by LTSA

SÀI GÒN (VTC) - Gọi nhầm taxi “nhái” chở từ phi trường Tân Sơn Nhất về nhà ở quận 1 bị “chặt đẹp” 4 triệu đồng, một phụ nữ người Mã Lai làm dữ mới lòi ra đó là taxi nhái bảng hiệu Mai Linh.
Nhờ vậy, cuối cùng phụ nữ này chỉ phải trả 150,000 đồng tương đương với 7 đô la Mỹ thay vì phải trả 200 đô la.
Khổ chủ cho biết không thể nào phân biệt được taxi Mai Linh thật và “nhái” nếu chỉ nhìn vào logo vẽ trên thân xe.
Trong khi đó, VTC News trích dẫn lời của một viên chức lãnh đạo công ty Mai Linh cho biết tại Sài Gòn hiện có gần 1,000 chiếc taxi “dù” nhái các hiệu xe lớn đang hoạt động trong đó có Mai Linh.
Các loại xe dù này chuyên hoạt động tại các khu vực thuộc quận 1, chợ Bến Thành đánh lừa các du khách ngoại quốc, ép khách phải trả tiền cước cao... Rất nhiều vụ đã xảy ra trong thời gian qua nhưng du khách ngoại quốc thường câm nín chịu đựng chứ không chịu tố giác vì sợ rắc rối, lôi thôi.
Người ta còn chưa quên thời gian gần đây, nhiều tài xế taxi đánh du khách Nhật, du khách Nam Hàn chỉ vì bị từ chối trả tiền “chặt đẹp.” (PL)
by LTSA

LỰC LƯỢNG DÂN TỘC CỨU NGUY TỔ QUỐC
P.O. Box 6005, Torrance, CA 90504, USA
187 The Horsley Drive, Fairfield, NSW 2165, AUSTRALIA
Website: www.lldtcntq.org – Email: vpll.llcq@gmail.com
THÔNG CÁO BÁO CHÍ
Ngày 15 tháng 5 năm 2011
về
Buổi Phát Thanh Đầu Tiên Về Việt Nam
của Đài ĐÁP LỜI SÔNG NÚI
Như đã công bố trong Thông Cáo Báo Chí ngày 5 tháng 5 năm 2011, Đài phát thanh ĐÁP LỜI SÔNG NÚI (ĐLSN) do LỰC LƯỢNG DÂN TỘC CỨU NGUY TỔ QUỐC (LLCQ) thực hiện đã phát buổi đầu tiên về Việt Nam, từ 9 giờ 30 đến 10 giờ tối, hôm nay, Chúa Nhật, 15 tháng 5, 2011, giờ Việt Nam, tức 7 giờ 30 đến 8 giờ sáng cùng ngày tại Los Angeles, Hoa Kỳ, trên làn sóng trung bình (AM), tần số 1503 kí lô chu kỳ (kHz).
Sau phần đài hiệu trích từ bản nhạc Đáp Lời Sông Núi của nhạc sĩ Trúc Hồ, buổi phát thanh mở đầu với lời chào mừng của ông Ngô Quốc Sĩ, giám đốc Đài. Tiếp đó là các phần phát biểu của ông Trần Quốc Bảo, chủ tịch Hội Đồng Điều Hợp Trung Ương và Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, chủ tịch Hội Đồng Cố Vấn & Yểm Trợ LLCQ nhân buổi phát thanh đầu tiên của Đài.
Trong phần trình bày cảm tưởng khi biết tin Đài phát thanh ĐLSN phát về Việt Nam, lần lượt nhà báo Nguyễn Minh Cần, từ Mạc Tư Khoa, LS Lê Thị Công Nhân từ Hà Nội, GS Nguyễn Ngọc Bích từ Hoa Thịnh Đốn, và Tu sĩ Phật Giáo Hòa Hảo Huỳnh Huệ Thọ từ Bạc Liêu, đã lên tiếng biểu tỏ sự vui mừng và ủng hộ Đài. Buổi phát thanh đầu tiên của Đài ĐLSN kết thúc với bài quan điểm "Tương lai nào cho Dân tộc Việt Nam".
Cùng lúc phát trên làn sóng điện trước đây đài BBC Luân Đôn đã từng phát (nhưng đã ngưng hoạt động từ cuối tháng 3 năm nay), toàn bộ chương trình buổi phát thanh này đã được đặt trên trang nhà của Đài ĐLSN tại địa chỉ: http://www.radiodaploisongnui.org/ để đồng bào khắp nơi theo dõi.
Kể từ 16 tháng 5, 2011, các buổi phát thanh của Đài ĐLSN sẽ gồm phần tin tức, bình luận và các chuyên mục về chính trị, văn hóa, xã hội, ... nhằm trình bày sự thật về những gì đang xẩy ra liên quan đến người Việt trong nước và hải ngoại. Muốn biết thêm chi tiết về Đài, xin liên lạc ông Ngô Quốc Sĩ, Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ Hội Đồng Điều Hợp Trung Ương, kiêm Giám đốc Đài phát thanh ĐLSN, địa chỉ: PO Box 612882, San Jose, CA 95161, USA, email: lienlac.dlsn@gmail.com, điện thoại: (408)663-9860.
Trong thời gian tới, LLCQ sẽ tổ chức các buổi tiếp xúc đồng hương trình bày về LL và đài ĐLSN tại các thành phố quan trọng trên thế giới. Lịch trình sơ khởi gồm: San José, Bắc Cali, vào Chúa Nhật, 29 tháng 5; tại Little Saigon, Nam Cali, Chúa Nhật 5 tháng 6; tại Dallas, TX, Thứ Bảy, 11 tháng 6; tại Houston, TX, Chúa Nhật, 12 tháng 6. Chi tiết các buổi sinh hoạt này được liệt kê trong trang nhà của LLCQ địa chỉ: www.lldtcntq.org
by LTSA

ĐỊA NGỤC
Bốn ngàn năm nước vẹn toàn .
Thời nay cộng sản đảng gian ,ác, tà .
Đất rừng biển đảo ông cha ,
Chúng nhường ,bán hết quỷ ma lộng hành .
A Tỳ địa nguc hỡi Minh !
Việt gian bán nước , cực hình lửa thiêu .
Đảng ngu toàn lũ cho mèo ,
Tội đồ lịch sử chạy theo Nga ,Tàu ./.
Có một nhà ngoại cảm viết bài cho biết linh hồn Hồ chí Minh hiện đang bị giam dưới ngục A Tỳ và cũng có một nhà ngoại cảm khác nói với tôi hiện linh hồn của Hồ Chí Minh đang bị giam ở địa ngục cuối cùng là A Tỳ .Ông Hồ đang rên khóc và xin tha tội ./.
ĐẠO BẦY LANG SÓI
Duẩn , Thọ mưu giết ông Hồ ,
Cái tình “ Đồng chí ” Nghe mà sợ thay .
Lẽ thường chó má xưa nay ,
Cục xương tranh xé đạo bầy sói lang ./.
Theo nhà văn Sơn Tùng năm1968 Lê Duẩn , Lê Đức Thọ mưu giết Hồ Chí Minh bằng đường hàng không ,khi Hồ Chí Minh từ Trung Quốc về Việt Nam.Nhưng hiện có nhiều người nói với tôi là Lê Duẩn , Lê Đức Thọ mưu thuốc Hồ Chí Minh nhiều lần , nhưng Hồ chí Minh đều biết và tránh được cả .
Cái hậu quả của những kẻ độc tài bất nhân thì chả bao giờ có kết cục tốt đẹp cả . chúng nó luôn bày mưu ,tính kế để giết hại nhau , triệt hạ nhau vì tranh giành quyền lợi . Đó là chuyện thường tình của cộng sản ./.
THĂNG LONG
Thứ Hai, 16 tháng 5, 2011
by LTSA

WESTMINSTER (NV) - Cuộc triển lãm mang tên “Photography at War” (tạm dịch, nhiếp ảnh thời chinh chiến) hiện diễn ra tại phòng sinh hoạt báo Người Việt.
Ðây là cuộc triển lãm những hình ảnh thời chiến tranh Việt Nam do các phóng viên Mỹ, ngoại quốc và miền Nam Việt Nam thời đó thực hiện. Trong số này, có nhiều bức đã đoạt giải Pullitzer.
Trong số những tác giả có ảnh triển lãm tại đây, nhiều người đã qua đời, như phóng viên ảnh Kiyoichi Sawada người Nhật, làm việc cho UPI, bị thiệt mạng trong một cuộc phục kích của quân Khmer Ðỏ.
Buổi triển lãm sẽ kéo dài từ Thứ Hai, 16 tháng 5 tới hết Chủ Nhật, 29 tháng 5, mỗi ngày từ 11:00 sáng tới 3:00 chiều.
Hình triển lãm do cựu phóng viên Ray F. Herndon thu thập, Rose Marie Tuohy biên tập.
Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2011
by LTSA

SAIGON/HANOI (VB) -- Tại hội thảo Phụ gia thực phẩm - những nguy cơ tiềm ẩn do Hội Khoa học kỹ thuật, an toàn vệ sinh thực phẩm tổ chức ngày 10-5 tại Hà Nội, PGS.TS Phan Thị Sửu (Hội Khoa học kỹ thuật, an toàn vệ sinh thực phẩm) cho biết ở VN việc sử dụng phẩm màu trong thực phẩm rất phổ biến.
Quà vặt giá bèo dành bán cho trẻ em, học sinh tiểu học , như: bánh tráng trộn, bánh đa mini, bánh đũa, bánh 'tay cùi', mứt chùm ruột đỏ.v.v luôn luôn bị cho vào các loại màu lòe loẹt cho hấp dẫn nhưng độc hại.(Photo VB)
Qua thanh tra trên thị trường với 203 mẫu nguyên liệu gồm 9 loại màu, 100% các mẫu màu xanh dương, tím nho, màu hồng đều không nằm trong danh mục cho phép và chỉ có 2/32 mẫu màu xanh lá cây là có trong danh mục.
Thường thì người sử dụng, nhất là trẻ em, thích thú hơn khi thấy các loại thực phẩm có màu sắc hấp dẫn, nhất là loại thức ăn, món uống bán rong ngoài đường phố, mà không biết rằng nếu bị sử dụng tùy tiện, không đúng chủng loại (như phẩm màu dùng trong công nghiệp), không đảm bảo độ tinh khiết và không đúng liều lượng, phẩm màu có thể là tác nhân gây nhiều loại bệnh cho gan, thận, về lâu dài gây ung thư cho người sử dụng.
Bà Sửu cũng lưu ý các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm chỉ dùng phẩm màu được phép sử dụng, chú ý các sản phẩm dùng cho trẻ nhỏ và riêng với sản phẩm dành cho trẻ dưới 3 tuổi thì cấm sử dụng các chất: tartrazine (màu vàng chanh), quinoline (vàng), brilliant blue (xanh), sunset yellow (vàng), carmoisine (đỏ), carmine (đỏ son), allura red AC (đỏ) và chất bảo quản natri benzoate.
by LTSA

SAIGON (VB) -- Ở một xóm nhỏ nằm sâu trong đường Lê Đức Thọ (phường 15, quận Gò Vấp) lâu nay có rất nhiều người nhập cư loay hoay kiếm sống với đủ mọi nghề, từ ở đợ, bán vé số đến lượm ve chai, bán xôi, bán rau muống.v.v...
Nếu mấy năm về trước, lượm ve chai (đồng nát) đem lại thu nhập ổn định cho nhiều người lao động nghèo ở xóm này thì hiện nay nhiều người đã bỏ về quê vì không kham nổi cảnh chi phí ngày càng đắt đỏ.
Một chị quê ở Thanh Hóa - tỉnh đang có hơn 240,000 dân thiếu đói - cho biết giá một phòng trọ chật chội, nóng như lò thiêu ở đây năm trước chỉ 500,000 đồng/tháng thì năm nay đã lên 650,000-700,000 đồng, riêng tiền điện, nước cũng tăng thêm dăm ba chục nghìn mỗi tháng.
"Giá ve chai thì chẳng lên được đồng nào nên càng phải tiết kiệm, cả mấy năm rồi tôi chưa dám mua chiếc áo mới, chị thở dài.
Đi chợ thì giá thịt, rau cũng đồng loạt đội lên do giá xăng đã tăng.
Thời gian trước, mỗi ngày vợ chồng chị chỉ làm từ 9 đến 10 tiếng đồng hồ, đến nay để có thêm thu nhập, họ phải "tăng ca" lên 12 tiếng để đi đến những nơi xa hơn mới mong có nhiều ve chai. Thành quả lao động cuối ngày của họ là những bao tải nặng chật cứng đồng nát.
Những thứ gì khô ráo sạch sẽ thì họ lựa chọn bán ngay ở vựa, còn bọc ni lông ướt, dơ chưa bán được phải chờ giặt (thường là vào ban đêm cho thêm thời gian phơi khô) , hơi khô khô mới chở đi bán nên ở xóm ve chai, trước những chiếc chòi tôn lụp xụp, lúc nào trên bờ rào cũng treo, chất trắng xóa bọc ni lông, dây điện chằng chịt... Vậy mà nhiều người vẫn phải bám trụ đất Sài Gòn, vì Ở lại để đi làm lấy tiền mà nuôi con. Về quê làm ruộng thì chết đói
by TDTH
MỘT TÀI LIỆU LỊCH SỬ QUAN TRỌNG
Tờ nhật báo Tiếng Dội số 462 *, năm thứ 3, đề ngày Thứ Sáu 24 Aout 1951, Âm lịch 22 tháng Bảy (Thiếu) năm Tân Măo, giá bán 1 đồng, của Chủ nhiệm Trần Chí Thành tự Trần Tấn Quốc, Tòa soạn Quản lý 216 đ. Gia Long Saigon, có bài mang tựa đề “Việt Minh vận động cho Việt Nam làm chư hầu Trung Quốc” , cho in nguyên văn một tờ truyền đơn do Trường Chinh ký như dưới đây:
(* Số báo Tiếng Dội này nằm trong Thư Viện tiếng Việt thuộc Bảo Tàng Viện Anh Quốc (British Museum – London).
ỦY BAN HÀNH CHÁNH KHÁNG CHIẾN
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA NĂM THỨ VII
TỔNG THƯ KÝ ĐẢNG LAO ĐỘNG VN
ĐỘC LẬP TỰ DO HẠNH PHÚC
SỐ: 284/ LD
Hỡi đồng bào thân mến!
Tại sao lại nhận vào trong nước Việt Nam yêu mến của chúng ta, là một nước biết bao lâu làm chư hầu cho Trung quốc, cái thứ chữ kỳ quặc của bọn da trắng Tư Bản đem vào!
Tại sao ta lại truyền bá trong dân chúng từ ải Nam Quan đến mủi Cà Mau, cách viết chữ dị kỳ của tên thực dân Alexandre de Rhodes đã đem qua xứ mình như thế ?
Không, đồng bào của ta nên loại hẳn cách viết theo lối âu tây ấy – một cách viết rơ ràng có mau thật đấy – và ta hãy trở về với thứ chữ của ông bà ta ngày trước, là thứ chữ nho của Trung Quốc.
Vả chăng, người Trung Hoa, bạn của ta – mà có lẽ là thầy của chúng ta nữa, ta không hổ thẹn mà nhìn nhận như thế – có phải là dân tộc văn minh trước nhất hoàn cầu không? Còn nói gì đến y khoa của Âu Mỹ: Chúng chỉ cắt, đục, khoét, nạo! Có thế thôi!
Hỡi đồng bào yêu mến! Chúng ta hãy gạt bỏ cách chữa bệnh của bọn Đế quốc phương Tây đem qua xứ ta!
Ta hãy bỏ nhà bảo sinh của chúng, bỏ bệnh viện của chúng, ta hãy dùng thuốc dán của ông cha ta để lại và nhất là dùng thuốc Tàu danh tiếng khắp cả hoàn cầu.
Ta hãy trở về phương pháp này, trước nữa để ủng hộ các bạn Trung Hoa, sau nữa để loại ra khỏi nước Việt Nam yêu mến của ta bao nhiêu những đồ nhập cảng thực dân như là khoa học, phát minh v.v. …
Ta hãy quét sạch lủ “trí thức” đã xuất thân ở các trường Âu Mỹ, đế quốc và thực dân!
Chúc “Tổng phản công” và “Thi hành mọi phương pháp bài trừ thực dân”.
Trường Chinh
Tổng thư ký đảng Lao Động
(Trích từ Saigon Online News số phát thành tháng 01 năm 2008)
trường chinh đồng chí yêu quí của hồ chí minh tổng bí thư đảng cộng sản đã đấu cha tố mẹ rồi đem chôn sống .
Tờ nhật báo Tiếng Dội số 462 *, năm thứ 3, đề ngày Thứ Sáu 24 Aout 1951, Âm lịch 22 tháng Bảy (Thiếu) năm Tân Măo, giá bán 1 đồng, của Chủ nhiệm Trần Chí Thành tự Trần Tấn Quốc, Tòa soạn Quản lý 216 đ. Gia Long Saigon, có bài mang tựa đề “Việt Minh vận động cho Việt Nam làm chư hầu Trung Quốc” , cho in nguyên văn một tờ truyền đơn do Trường Chinh ký như dưới đây:
(* Số báo Tiếng Dội này nằm trong Thư Viện tiếng Việt thuộc Bảo Tàng Viện Anh Quốc (British Museum – London).
ỦY BAN HÀNH CHÁNH KHÁNG CHIẾN
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA NĂM THỨ VII
TỔNG THƯ KÝ ĐẢNG LAO ĐỘNG VN
ĐỘC LẬP TỰ DO HẠNH PHÚC
SỐ: 284/ LD
Hỡi đồng bào thân mến!
Tại sao lại nhận vào trong nước Việt Nam yêu mến của chúng ta, là một nước biết bao lâu làm chư hầu cho Trung quốc, cái thứ chữ kỳ quặc của bọn da trắng Tư Bản đem vào!
Tại sao ta lại truyền bá trong dân chúng từ ải Nam Quan đến mủi Cà Mau, cách viết chữ dị kỳ của tên thực dân Alexandre de Rhodes đã đem qua xứ mình như thế ?
Không, đồng bào của ta nên loại hẳn cách viết theo lối âu tây ấy – một cách viết rơ ràng có mau thật đấy – và ta hãy trở về với thứ chữ của ông bà ta ngày trước, là thứ chữ nho của Trung Quốc.
Vả chăng, người Trung Hoa, bạn của ta – mà có lẽ là thầy của chúng ta nữa, ta không hổ thẹn mà nhìn nhận như thế – có phải là dân tộc văn minh trước nhất hoàn cầu không? Còn nói gì đến y khoa của Âu Mỹ: Chúng chỉ cắt, đục, khoét, nạo! Có thế thôi!
Hỡi đồng bào yêu mến! Chúng ta hãy gạt bỏ cách chữa bệnh của bọn Đế quốc phương Tây đem qua xứ ta!
Ta hãy bỏ nhà bảo sinh của chúng, bỏ bệnh viện của chúng, ta hãy dùng thuốc dán của ông cha ta để lại và nhất là dùng thuốc Tàu danh tiếng khắp cả hoàn cầu.
Ta hãy trở về phương pháp này, trước nữa để ủng hộ các bạn Trung Hoa, sau nữa để loại ra khỏi nước Việt Nam yêu mến của ta bao nhiêu những đồ nhập cảng thực dân như là khoa học, phát minh v.v. …
Ta hãy quét sạch lủ “trí thức” đã xuất thân ở các trường Âu Mỹ, đế quốc và thực dân!
Chúc “Tổng phản công” và “Thi hành mọi phương pháp bài trừ thực dân”.
Trường Chinh
Tổng thư ký đảng Lao Động
(Trích từ Saigon Online News số phát thành tháng 01 năm 2008)
trường chinh đồng chí yêu quí của hồ chí minh tổng bí thư đảng cộng sản đã đấu cha tố mẹ rồi đem chôn sống .
by TDTH
Ngày đó hợp tác xã ở miền Bắc VN xã hội chủ nghĩa ra một chiến dịch thu gom phân bắc (cứt người), mỗi gia đình một tháng phải đóng đủ mười cân, nếu không đóng đủ thì bị cắt gạo. Thật là một chiến dịch có một không hai trong xã hội loài người. Vậy nên, khi chiến dịch ra đời, cái cầu tiêu trở nên vô cùng quan trọng và cấp thiết. Người người, nhà nhà mua xi măng mua gạch về xây cầu tiêu. Cầu tiêu phải làm bằng xi măng thì cứt mới không bị phân huỷ, chứ ỉa xuống đất vài ngày là bọ hung ăn hết, lấy gì mà đóng cho nhà nước. Vậy nên, cái cầu tiêu quan trọng hơn cái nhà.
Chuyện ỉa đái lúc này cũng cực kỳ quan trọng, dù ai đó có bị tào tháo rượt ở đâu thì cũng phải nhanh nhanh ba chân bốn cẳng chạy thẳng về cầu tiêu nhà mình mà giải quyết chứ để mất đi một cục là mất đi lon gạo chứ chẳng chơi. Nhiều người đi làm ngoài đồng, ngày trước, khi mắc ỉa thì chạy vô bờ, vô bụi làm đại cho xong, nhưng bây giờ, làm như vậy có mà đói chết. Vậy nên, phải tìm cách, có người làm đại vào bao ni lông, có người cuộn trong lá chuối, có người cẩn thận hơn đi vào trong cái càmèn đựng cơm để mang về cho an toàn mà đổ xuống cầu.
Có nhiều chuyện dở khóc dở cười trong chiến dịch này lắm, ai sống thời đó chắc biết. Khi chiến dịch ra đời thì cũng là lúc không biết bao nhiêu con chó phải chết. Chó chết vì đói, cơm khoai đã không có ăn, đến cục cứt cũng bị nhà nước dành mất thì lấy gì mà sống. Nhà tôi có bốn người, một người lớn và ba đứa con nít, cố gắng lắm không để thất thoát cục nào, vậy mà đến tháng vẫn không đủ cân nộp, má tôi sai anh em chúng tôi đi tìm đá sỏi bỏ vào cho đủ. Khi mang lên cân người ta kiểm tra và phát hiện nhà tôi gian lận nên lập biên bản và làm kiểm điểm. Họ còn ghi rõ ràng trong biên bản gian lận như thế nào, có bao nhiêu cục cứt và bao nhiêu cục đá sỏi. Quả đúng không sai, cái đời người nông dân u tối làm sao mà lừa được mấy ông nhà nước, mấy ông tinh vi vô cùng. Kết quả là nhà tôi bị cấm không cho nhận gạo một tháng. Trong một buổi họp người ta đưa tên má tôi ra kiểm điểm trước dân về việc gian lận lấy đá sỏi trộn với cứt để nộp cho nhà nước. Họ không cho má tôi phân bua gì hết. Nhưng không đành lòng nhìn cảnh con đói, bà đứng dậy thẳng thừng, dứt khoát.
Bà nói : “Việc tôi làm gian lận tôi chịu trách nhiệm trước toàn thể mọi người, nhưng các người nhìn đi thì cũng phải nhìn lại, nhìn ngược thì cũng phải nhìn xuôi, các người có nhìn vào nhà tôi không, nhà tôi có bốn người, một người lớn và ba đứa con nít, tôi thì suốt ngày đi làm ngoài hợp tác xã, có cục nào tôi đã ỉa ngoài hợp tác xã hết rồi, còn con tôi ở nhà, nó là con nít nó ăn bao nhiêu, ỉa bao nhiêu, nó ỉa ra cục nào chó lủm cục đó thì lấy đâu đủ cứt để mà nộp cho mấy ông. Vậy mà bây giờ mấy ông kiểm điểm tôi, cắt gạo thì lấy gì tôi nuôi con, lấy gì ăn để mà ỉa mà đem cứt nộp cho mấy ông.”
Nói gì thì nói, la gì thì la, nhà tôi vẫn bị cắt gạo tháng đó. Không còn gì khốn nạn hơn thế. Nói thiệt, đến bây giờ trong hồ sơ giấy tờ ở kho lưu trữ quốc gia thì nhà tôi vẫn còn một món nợ lớn với nhà nước mà không thể nào trả nổi, đó là nợ cứt./.
( theo ba cây trúc )
nguoithathoc1959
PHIẾU CUNG CẤP THỊT CƠ ĐỘNG











hai mươi năm gam?!


cà-vẹt xe đạp tài sản giá trị tương đối lớn thời thời bấy giờ .
sau 1975 xe đạp đưa vào Miền Nam còn đeo lủng lẳng bảng số nơi khung xe .





Sau phần Tem phiếu của ‘bác’ LÀ : NỢ CỨT
Chuyện ỉa đái lúc này cũng cực kỳ quan trọng, dù ai đó có bị tào tháo rượt ở đâu thì cũng phải nhanh nhanh ba chân bốn cẳng chạy thẳng về cầu tiêu nhà mình mà giải quyết chứ để mất đi một cục là mất đi lon gạo chứ chẳng chơi. Nhiều người đi làm ngoài đồng, ngày trước, khi mắc ỉa thì chạy vô bờ, vô bụi làm đại cho xong, nhưng bây giờ, làm như vậy có mà đói chết. Vậy nên, phải tìm cách, có người làm đại vào bao ni lông, có người cuộn trong lá chuối, có người cẩn thận hơn đi vào trong cái càmèn đựng cơm để mang về cho an toàn mà đổ xuống cầu.
Có nhiều chuyện dở khóc dở cười trong chiến dịch này lắm, ai sống thời đó chắc biết. Khi chiến dịch ra đời thì cũng là lúc không biết bao nhiêu con chó phải chết. Chó chết vì đói, cơm khoai đã không có ăn, đến cục cứt cũng bị nhà nước dành mất thì lấy gì mà sống. Nhà tôi có bốn người, một người lớn và ba đứa con nít, cố gắng lắm không để thất thoát cục nào, vậy mà đến tháng vẫn không đủ cân nộp, má tôi sai anh em chúng tôi đi tìm đá sỏi bỏ vào cho đủ. Khi mang lên cân người ta kiểm tra và phát hiện nhà tôi gian lận nên lập biên bản và làm kiểm điểm. Họ còn ghi rõ ràng trong biên bản gian lận như thế nào, có bao nhiêu cục cứt và bao nhiêu cục đá sỏi. Quả đúng không sai, cái đời người nông dân u tối làm sao mà lừa được mấy ông nhà nước, mấy ông tinh vi vô cùng. Kết quả là nhà tôi bị cấm không cho nhận gạo một tháng. Trong một buổi họp người ta đưa tên má tôi ra kiểm điểm trước dân về việc gian lận lấy đá sỏi trộn với cứt để nộp cho nhà nước. Họ không cho má tôi phân bua gì hết. Nhưng không đành lòng nhìn cảnh con đói, bà đứng dậy thẳng thừng, dứt khoát.
Bà nói : “Việc tôi làm gian lận tôi chịu trách nhiệm trước toàn thể mọi người, nhưng các người nhìn đi thì cũng phải nhìn lại, nhìn ngược thì cũng phải nhìn xuôi, các người có nhìn vào nhà tôi không, nhà tôi có bốn người, một người lớn và ba đứa con nít, tôi thì suốt ngày đi làm ngoài hợp tác xã, có cục nào tôi đã ỉa ngoài hợp tác xã hết rồi, còn con tôi ở nhà, nó là con nít nó ăn bao nhiêu, ỉa bao nhiêu, nó ỉa ra cục nào chó lủm cục đó thì lấy đâu đủ cứt để mà nộp cho mấy ông. Vậy mà bây giờ mấy ông kiểm điểm tôi, cắt gạo thì lấy gì tôi nuôi con, lấy gì ăn để mà ỉa mà đem cứt nộp cho mấy ông.”
Nói gì thì nói, la gì thì la, nhà tôi vẫn bị cắt gạo tháng đó. Không còn gì khốn nạn hơn thế. Nói thiệt, đến bây giờ trong hồ sơ giấy tờ ở kho lưu trữ quốc gia thì nhà tôi vẫn còn một món nợ lớn với nhà nước mà không thể nào trả nổi, đó là nợ cứt./.
( theo ba cây trúc )
nguoithathoc1959
PHIẾU CUNG CẤP THỊT CƠ ĐỘNG
hai mươi năm gam?!
cà-vẹt xe đạp tài sản giá trị tương đối lớn thời thời bấy giờ .
sau 1975 xe đạp đưa vào Miền Nam còn đeo lủng lẳng bảng số nơi khung xe .
Sau phần Tem phiếu của ‘bác’ LÀ : NỢ CỨT
Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011
by LTSA

LTS: Truyền thông Việt Nam cho hay, có khoảng 250 ngàn người trong 7 huyện của tỉnh Thanh Hóa đang đối mặt với cái đói. Ðó là các huyện Mường Lát, Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Lang Chánh, Thường Xuân và Như Xuân. Cái đói đang hiện diện và rình rập 1/4 triệu người là bởi hạn hán làm thất mùa, nhưng nguyên nhân chính vẫn là người nông dân đang mất dần đất canh tác. Cộng tác viên Liêu Thái của Người Việt vừa có chuyến đi đến các địa phương bị đói của tỉnh Thanh Hóa và gởi về loạt phóng sự này.
THANH HÓA - Như Xuân là một huyện nằm dọc theo đường Trường Sơn, có thể nói, chúng tôi chưa bao giờ nhìn thấy cái nghèo, cái đói đến độ tả tơi, rách nát như ở đây.
Giữa cái nắng gay gắt, gió Lào táp mặt, những mái nhà tranh liêu xiêu, cũ mốc và thấp lè tè cứ như một người mất sức đang cúi rạp mình bám vào đất để tránh cơn lốc lửa. Thỉnh thoảng, vài người già mang gùi nặng nhọc lê bước dọc theo con đường đầy nắng gió, lốc bụi và tiếng còi hơi xe tải rúc lên từng hồi.
Nhìn đâu cũng thấy đói nghèo
Ba giờ chiều, chúng tôi đến thôn Xuân Thượng, xã Thượng Ninh, huyện Như Xuân. Ðến đây, có thể nói một câu ngắn gọn: Bốn bề, nhìn đâu cũng thấy đói nghèo!
Nhìn thấy hai đứa nhỏ đang ngồi trước mái hiên nhà tranh rách tươm, ủ rũ nhìn ra đường, chúng tôi ghé vào thăm. Hai đứa nhỏ nhìn thấy người lạ, chúng hốt hoảng chạy vào nhà, chừng vài phút sau, một người phụ nữ xuất hiện, cô mời chúng tôi vào nhà.
Trong nhà trống hoác, nhìn quanh, không thấy gì ngoài một cái bàn ọp ẹp, hai cái ghế cũng ọp ẹp không kém, bốn vách nhà bằng phên nứa đã thủng lổ chổ, một cái giường tre và một cái bếp chỉ bắc trên đó độc nhất một cái ấm nước, bên cạnh bếp là một chai nước mắm loại xoàng nhất và hai cái nồi treo chỏng vơ trên vách.
Như muốn giải thích cho sự nghèo khó của mình, cô gái tên Bùi Thị Lợi, mẹ của hai đứa bé nói: “Anh chị lên lúc này không đúng bữa cơm nên em đã dọn hết bếp rồi, không có chi cho anh chụp hình cả, chứ lúc nãy em có nấu cơm thì nhìn nó đẹp hơn...”
Tôi hỏi: “Anh đi đâu rồi chị?” Lợi nói: “Dạ ảnh đi làm thuê dưới miền xuôi rồi, nhà làm nông, mùa này không có lúa để gặt nên xuống dưới xuôi làm thuê.”
Lợi cười buồn: “Bọn em mới ra riêng được 5 năm nay, chưa có gì cả, xe đạp còn chưa có để đi mà làm gì dám mơ đến xe máy chứ. Cố gắng làm ăn tu bổ lại cái nhà cho bớt dột đã rồi tính tiếp, có làm gì đâu ngoài chuyện ruộng đồng, rồi khoai sắn, rồi lại lên rừng kiếm củi bán lấy tiền đi chợ, tiền đâu mà dám mơ...”
Hỏi thăm mỗi ngày nhà Lợi đi chợ bao nhiêu tiền, Lợi cười: “Tụi em mỗi tháng đi chợ ba lần thôi, chủ yếu là ăn rau rừng, nấu cơm, chan nước mắm và hái một ít rau rừng ăn là qua ngày rồi, lâu lâu xuống chợ mua một bữa cá, một ít thịt cho mấy đứa nhỏ khỏi bị thèm ăn là đủ rồi, mỗi lần đi chợ em mua cả năm, sáu chục ngàn đồng luôn cho mấy đứa nó ăn cho đã thèm đó anh chị à!”
Chưa thấy ký gạo cứu trợ nào...
Tôi hỏi thêm: “Vậy nhà mình đã nhận được gạo cứu trợ chưa?” Lợi lại lắc đầu: “Dạ chưa thấy gì anh ạ, đâu thấy gì đâu. Nghe nói có cứu trợ từ năm ngoái, nhưng cho đến bây giờ vẫn chưa thấy gì, nhà em đã nợ gạo của chủ đại lý gần bốn chục ký rồi, đợi tới mùa gặt mới bán lúa cho ông bà ấy mà trừ nợ.”
Lợi cho biết, nhà cô làm ba sào lúa (1,500m2) trên bìa rừng, mỗi năm làm hai vụ, đất khô cằn nên chẳng có bao nhiêu lúa, ngoài lúa, nhà cô còn làm thêm mấy sào khoai mì nhưng bán cũng chẳng được bao nhiêu tiền. Ở đây, bà con ai cũng vậy. Ðược chừng ấy đất và cứ quanh quẩn chừng ấy đất rồi lại đi làm thuê, xuống xuôi, vào Nam mà kiếm ăn...
Lang Chánh, cán bộ nuốt gần hết phần cứu trợ
Chúng tôi đến huyện Lang Chánh khi trời xế chiều, hai bên đường là rừng núi vắng hoe, một người đàn bà tay bị tay xách đi ăn xin đang trở về làng sau một tuần hành khất dưới phố. Bà cho biết mình tên Hoa, khai tên theo tiếng Kinh, bà là người dân tộc Tày, đã hơn năm đời bám rừng bám núi ở xã Yên Khương, bỏ hẳn du canh du cư. Nhưng càng bám rừng thì càng đói.
Nhà bà Hoa có ba người con, họ đã bỏ làng đi từ mười năm trước, bà sống một mình, kể từ ngày họ ra đi, bà không nhận được tin tức gì. Bà chỉ biết cày xới trên mấy thửa ruộng bậc thang, tổng cộng diện tích chưa đến 500m2, trước đây thì có nhiều ruộng nhưng do con bà đi hết nên người ta thu hồi đất, chia cho người khác. Mà bây giờ nếu có đất bà làm cũng không nổi, tuổi cao, sức yếu, bà đành mang bị đi ăn xin.
Hai mẹ con bà Hơn và cô Hằng đang cuốc cỏ cái vườn sắn được đầu tư hơn 10 triệu đồng bởi nguồn tiền xóa đói giảm nghèo. (Hình: Phi Khanh/Người Việt)
Bà Hoa bảo rằng, có nhiều người đi ăn xin nhưng không phải cả làng. Nhưng với đà này, lúa gạo làm không ra, đất thì không có, nhà nước nói là cứu trợ nhưng thật ra khi về đến tay dân thì không còn gì nữa...”
“Nói cho có vậy, mấy mươi năm sống ở đây, tôi kinh nghiệm lắm rồi. Nói là cho mỗi người một bịch muối, gửi tiền về, nhưng thay vì tính một bịch muối trị giá ba ngàn đồng theo giá ngoài chợ thì lại tính lên bảy ngàn đồng. Khi nói thì cho con bò, nhưng nhận thì còn bằng cái đuôi bò, thì kệ, cứ có mùi bò cũng được!” Nói xong, bà Hoa lắc đầu, thở dài.
Bà con huyện Lang Chánh tuy gặp thời tiết hạn hán, không được mùa, trúng vụ, nhưng vẫn chưa có chuyện mất trắng mùa nào, ít ra thì cũng gặt được một ít lúa đắp đổi qua ngày. Nhưng kể từ ngày đất rừng không còn được tự do khai thác, đất rừng đã qui hoạch thành vườn, thành trang trại của các cán bộ về hưu, cán bộ xã, huyện... thì đời sống của bà con lâm vào khó khăn, đói kém bởi không còn đất để canh tác.
Và khi bà con mất hết mọi thói quen sinh hoạt thường nhật, mất thói quen khai phá nương rẫy, vào rừng săn bắt, cái đói cận kề thì nhà nước hô hào cứu trợ. Nhưng chuyện cứu trợ nghe to tát, bà con nhận được chẳng bao giờ đủ sống qua mươi ngày, nửa tháng.
Phóng sự của Liêu Thái/Người Việt
by LTSA

QUẢNG NGÃI (NLĐ) - Một ngư dân của huyện đảo Lý Sơn đã thiệt mạng trong khi lặn tìm hải sâm ở vùng biển Trường Sa.
Theo bản tin báo Người Lao Ðộng, ngư dân Nguyễn Văn Vinh, 22 tuổi, thiệt mạng ngày 9 tháng 5, 2011 vừa qua vì “trục trặc hệ thống dẫn hơi” khi đang ở độ sâu 50 mét.
Những năm gần đây, theo nguồn tin: “Lặn hải sâm là một nghề cho thu nhập cao, thu hút nhiều ngư dân Lý Sơn tham gia. Tuy nhiên nghề này luôn gặp nhiều rủi ro về tính mạng do thiếu dụng cụ bảo hộ lao động an toàn.”
Tháng 6 năm ngoái, một ngư dân khác của đảo Lý Sơn cũng đã thiệt mạng khi lặn tìm hải sâm ở độ sâu 40 mét và cũng bị trục trặc hệ thống ống dẫn hơi.
Hải sâm là một loại sinh vật biển trông giống như con đỉa nên còn được ngư dân gọi là đỉa biển với thân hình dài và da có lông, sống trong lòng biển trên khắp thế giới. Tên tiếng Anh của loài này là Sea cucumber nghĩa là dưa biển do thân hình loài vật này giống quả dưa, hải sâm có xương trong nằm ngay dưới da.
Hải sâm rất đắt nên ngư dân sống bằng nghề lặn tìm hải sâm có đời sống sung túc. Giá hải sâm khô trên thị trường có thể tới $200 USD/kg.
Một bài báo của tờ Thanh Niên ngày 24 tháng 6, 2007 kể rằng trong vòng từ 2006 đến giữa năm 2007 đã có tới 26 ngư dân Lý Sơn tử vong và hàng chục người khác đã trở thành tàn phế chỉ vì lặn tìm hải sâm.
by LTSA

Hình ảnh chúa Jesus, Đức mẹ, giáo hoàng... lần lượt xuất hiện một cách bí ẩn trên đồ dùng, vật dụng đời thường.
Trong đêm kỷ niệm 2 năm ngày mất của giáo hoàng John Paul II, nhiếp ảnh gia không chuyên Grzegorz đã chụp được tấm hình đống lửa cháy bùng với hình ảnh tương tự “vóc dáng” của ông. Thời gian khoảnh khắc của tấm ảnh là 21.37:30 – vô tình trùng khớp với giờ lâm trung của giáo hoàng.
by LTSA

Một danh ngôn mà chúng ta thường nghe “thế giới có rất nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt vời và vĩ đại nhất vẫn là trái tim người mẹ”
Thật vậy, bao nhiêu thơ viết về mẹ cũng không đủ, bao nhiêu nhạc hát về mẹ cũng không vừa. Biển Thái Bình bao la, nước sông Hằng cuồn cuộn nhưng không sao có thể so sánh được với tấm lòng của mẹ. Bản nhạc nào viết về mẹ cũng hay, bài thơ nào viết về mẹ cũng cảm động bởi vì ngôn ngữ dành cho mẹ là ngôn ngữ của trái tim.
Mẹ là biểu tượng trọn vẹn và tuyết đối của tinh thần Chân Thiện Mỹ. Nếu có một người để chúng ta có thể san sẻ những điều thầm kín, riêng tư nhất, thì người đó phải là mẹ. Nếu có một người có thể tha thứ cho chúng ta dù phạm phải bất cứ một lỗi lầm gì, người đó sẽ là người mẹ. Tôi tin, nếu chúng ta biết dành ý nghĩ đầu tiên của một ngày, thay vì để nghĩ đến chuyện hơn thua, danh lợi nhưng là để nghĩ về mẹ, nghĩ về khuôn mặt của mẹ, tiếng cười của mẹ, lời dặn dò của mẹ hay thậm chí chỉ để gọi tiếng mẹ thôi, chúng ta sẽ có một ngày an lành và hạnh phúc.
Mẹ là người mang ta đến cuộc đời, và cũng là nơi ta trở về. Người đàn bà chân mang đôi dép ngược, khoát chiếc mền rách, như trong một câu chuyện thiền mà chúng ta có thể đã từng nghe kể, dù bao mùa mưa nắng vẫn không than van, không oán trách, vẫn chờ đơi ngày về của đứa con mãi mê trên đường đi tìm chân lý. Nếu chân lý mà chàng trai trẻ kia đi tìm là tình thương và sự thật thì chân lý sẽ không ở đâu xa mà trái lại vô cùng gần gủi. Trong tấm thân gầy yếu nhỏ nhoi của người mẹ chứa đựng cả một đại dương của hy vọng, tình yêu, sự thật và lòng vị tha sâu thẳm.
Hơn mười năm trước, tôi có viết một bài thơ về mẹ, trong đó có hai câu đã trở thành quen thuộc:
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.
Bài thơ ra đời trong một đêm mưa, sau lần điện thoại đầu tiên với mẹ tôi từ Việt Nam. Giọng của mẹ như vọng lại từ một thế giới khác xa xôi. Tôi viết rất nhanh, nhanh hơn khi viết những bài thơ khác nhiều. Những dòng chữ, những câu thơ đúng ra là từ mơ ước, thao thức đã ấp ủ trong tâm thức tôi từ lâu lắm, chỉ chờ dịp để tuôn ra. Tôi không làm thơ, tôi chỉ chép như có một người nào đang nhắc nhở bên tai mình. Nguyên văn bài thơ như thế này:
Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi
Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về
Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương
Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau
Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ
Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.
Bài thơ đơn giản và dể hiểu, không có gì phải cần bình giải. Tất cả chỉ để nói lên tâm trạng của một người con xa mẹ, bay đi như chiếc lá xa cành, mười năm chưa về lại cội. Năm tôi viết bài thơ, mẹ tôi, đã ngoài 60 tuổi và đang sống trong căn nhà tôn nghèo nàn ở Hòa Hưng Sài Gòn. Căn nhà nhỏ có giàn hoa giấy đỏ đó là nơi tôi đã sống 8 năm.
Nhớ lại đêm cuối cùng ở Sài Gòn, tôi đón xe xích-lô từ cửa sông về chào mẹ. Trời mưa lớn. Nhưng khi gặp mẹ, với tâm trí ngàn ngập những lo âu, hồi hộp cho chuyến đi, tôi không kịp nói một câu cho trọn vẹn ngoài ba tiếng “con đi nghe”. Và như thế tôi đi, đi không ngoảnh lại, đi như chạy trốn. Để rồi hai ngày sau, khi chiếc ghe nhỏ của chúng tôi được hải quân Mỹ cứu vớt trên biển Đông vào khuya ngày 13 tháng 6 năm 1981, đứng trên boong chiến hạm USS White Plains nhìn về phía Nam, tôi biết quê hương và mẹ đã ngoài tầm tay vói của mình. Đời tôi từ nay sẽ như chiếc lá, bay đi, bay đi, chưa biết ngày nào hay cơ hội nào trở về nguồn cội.
Nếu có một quốc gia mà những người dân của quốc gia đó đã phải từ chối chính đất nước mình, từ chối nơi đã chôn nhau cắt rốn của mình, tôi nghĩ, đất nước đó không còn bao nhiêu hy vọng. Việt Nam sau 1975 là một đất nước sống trong tuyệt vọng như thế. Dân tộc Việt Nam những năm sau 1975 là một dân tộc sống trong tâm trạng những kẻ sắp ra đi. Sài Gòn giống như một sân ga. Chào nhau như chào nhau lần cuối và mỗi ngày là một cuộc chia ly. Bắt tay một người quen, ai cũng muốn giữ lâu hơn một chút vì biết có còn dịp bắt tay nhau lần nữa hay không. Gặp người thân nào cũng chỉ để hỏi “Bao giờ anh đi, bao giờ chị đi”, và lời chúc nhau quen thuộc nhất mà chúng thường nghe trong những ngày đó vẫn là “Lên đường bình an nhé.”
Đất nước tuy đã hòa bình rồi, quê hương đã không còn tiếng súng nhưng lòng người còn ly tán hơn cả trong thời chiến tranh. Đêm cuối ở Sài Gòn lòng tôi ngổn ngang khi nghĩ đến ngày mai. Ngày mai sẽ ra sao? Nếu bị bắt tôi sẽ ở tù như lần trước nhưng nếu đi được thì sẽ trôi dạt về đâu?
Suốt sáu năm ở lại Sài Gòn, tôi chỉ nghĩ đến việc duy nhất là ra đi. Khi chiếc ghe nhỏ bị mắc cạn trong một con lạch ở Hải Sơn buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1981, trời đã sáng, nhiều người, kể cả một trong hai người chủ ghe, cũng bỏ ra về, nhưng tôi thì không. Tôi phải đi dù đi giữa ban ngày. Tôi phải tìm cho được tự do dù phải bị bắt và ngay cả phải trả giá bằng cái chết. Tự do đầu tiên, biết đâu cũng sẽ là cuối cùng và vĩnh viễn. Nhưng hai ngày sau, khi đứng trên boong tàu Mỹ, tôi biết mình vừa mất một cái gì còn lớn hơn ngay cả mạng sống của mình. Đó là đất nước, quê hương, bè bạn, con đường, tà áo, cơn mưa chiều, cơn nắng sớm, và trên tất cả, hình ảnh mẹ. Không phải những người ra đi là những người quên đất nước hay người ở lại bám lấy quê hương mới chính là người yêu nước. Không. Càng đi xa, càng nhớ thương đất nước, càng thấm thía được ý nghĩa của hai chữ quê hương. Không ai hiểu được tâm trạng người ra đi nếu không chính mình là kẻ ra đi.
Nói như thế không có nghĩa là tôi hối hận cho việc ra đi. Không, tôi phải đi. Nhưng chọn lựa nào mà chẳng kèm theo những hy sinh đau đớn. Bài hát Sài Gòn Vĩnh Biệt, tôi thỉnh thoảng nghe trên đài VOA khi còn ở Việt Nam như những mũi kim đâm sâu vào tâm thức. Bao nhiêu điều hai ngày trước tôi không hề nghĩ đến đã bừng bừng sống dậy. Bao nhiêu kỷ niệm tưởng đã chìm sâu trong ký ức đã lần lượt trở về. Tự do, vâng, tôi cuối cùng đã tìm được tự do nhưng đó chỉ là tự do cho chính bản thân mình. Những gì tôi đánh mất còn lớn hơn thế nữa.
Nhớ lại đêm thứ hai trên biển, khi biết chiếc ghe chiều dài vỏn vẹn mười mét rưỡi nhưng chứa đến 82 người của chúng tôi vừa cặp vào thành tàu chiến của Mỹ thay vì Ba-Lan hay Liên-Xô như mọi người trên ghe lo sợ, ai cũng hân hoan mừng rỡ. Đám bạn tôi, có đứa thậm chí còn hô lớn “USA, USA” và ôm chầm lấy những người lính hải quân Mỹ đang dang tay đỡ từng người bước lên khỏi chiếc cầu dây đang đong đưa trên sóng. Tôi cũng vui mừng, biết ơn và cảm động nhưng không ôm chầm hay hô lớn. Lòng tôi, trái lại, chợt dâng lên niềm tủi thẹn của một người tỵ nạn. Chiếc cầu dây mong manh tôi bám để leo lên chiến hạm, trở thành chiếc cầu biên giới, không chỉ cách ngăn giữa độc tài và tự do, của quá khứ và tương lai, mà còn giữa có quê hương và thiếu quê hương. Tôi nghĩ thầm, cuối cùng, tôi cũng như nhiều người Việt Nam khác, lần lượt bỏ đất nước ra đi mà thôi. Dù biện minh bằng bất cứ lý do gì, tôi cũng là người có lỗi với quê hương.
Tôi nhớ đến mẹ, người mẹ Hòa Hưng vất vả nuôi nấng bảy đứa con, trong đó tôi là con lớn nhất, trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Mẹ tôi bán bánh bèo ở đầu đường để nuôi chúng tôi ăn học. Mẹ tôi tình nguyện đi kinh tế mới ở Sông Bé để các em tôi còn được phép ở lại Sài Gòn học hết bậc phổ thông. Mẹ tôi đi mót lúa, mót khoai gởi về nuôi nấng chúng tôi trong những ngày đói khổ.
Trong tâm trí tôi, hình ảnh bà mẹ Hòa Hưng, đêm đầu tiên trong căn nhà không vách trên vùng Kinh Tế Mới, khoảng 20 cây số phía Nam thị trấn Đồng Xoài vào năm 1976. Cánh rừng vừa được khai hoang vội vã này không ai nghĩ một ngày sẽ được gọi bằng một cái tên rất đẹp, khu Kinh Tế Mới. Kinh Tế Mới là những căn nhà lá mỗi chiều chỉ hơn mười mét do những bàn tay học trò của thanh niên xung phong dựng lên, nối nhau chạy dọc theo cánh rừng hoang.
Tôi kính yêu me. Mẹ Hòa Hưng là người săn sóc tôi trong những tháng ngày khó khăn nhất của tôi và người đã thôi thúc tôi viết nên bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười trong đêm mưa hơn mười năm trước. Tuy nhiên, mẹ của Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười không phải là người đã mang tôi vào cuộc đời này.
Người mẹ sinh ra tôi đã chết khi tôi còn rất nhỏ. Nhỏ đến nỗi tôi gần như không biết mặt mẹ mình. Trong tuần hoàn của vũ trụ, giọt nước còn biết mẹ mình là mây, chiếc lá còn biết mẹ mình là cây, còn tôi thì không. Tôi là đứa bé cô độc, một con người cô độc, không anh em, không chị em. Tôi lớn lên một mình với cha tôi trong cảnh gà trống nuôi con trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mã Châu, quận Duy Xuyên. Đêm đêm nằm nghe cha kể chuyện thời trai trẻ buồn nhiều hơn vui của đời ông. Những ngày tản cư lên vùng núi Quế Sơn. Những ngày sống trong túp lều tranh dưới hàng tre Nghi Hạ. Và dưới hàng tre Nghi Hạ nắng hanh vàng đó, cha mẹ tôi đã gặp nhau, đã chia nhau ly nước vối chua chua thay cho chén rượu tân hôn nồng thắm. Dù sao, bên khung cửi vải, bên lò ươm tơ, họ đã cùng nhau dệt một ngày mai đầy hy vọng. Mặt trời rồi sẽ mọc bên kia rặng tre già, mặt trăng rồi sẽ tròn bên kia giòng sông Thu, những ngày chiến tranh, tản cư cực khổ sẽ qua đi nhường bước cho hòa bình sẽ đến.
Nhưng rồi chiến tranh như một định nghiệp, đeo đuổi theo số phận của đất nước chúng ta, đeo đuổi theo số phận của đời tôi. Năm tôi 13 tuổi, chiến tranh đã cướp đi cha tôi, người thân yêu cuối cùng của tôi. Chiến tranh lan tràn đến làng Mã Châu, đẩy tôi ra khỏi xóm lụa vàng thân quen để làm người du mục trên quê hương đổ nát của mình. Từ đó tôi ra đi. Từ chặng đường đầu tiên trên căn gác hẹp trong con hẻm 220 Hùng Vương Đà Nẵng, đến chùa Viên Giác Hội An, xóm nghèo Hòa Hưng, trại tỵ nạn Palawan và hôm nay trên nước Mỹ, nơi cách chặng đầu tiên trong hành trình tỵ nạn của tôi hàng vạn dặm.
Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ. Nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Tôi ưu tư về cuộc đời và về thân phận của mình ngay từ thuở chỉ vừa năm, bảy tuổi. Tại sao tôi chỉ có một mình? Tại sao mọi người đều lần lượt bỏ tôi đi? Nếu mai mốt ba tôi cũng đi thì tôi sẽ sống với ai? Lớn lên tôi sẽ làm gì? Tại sao đất nước tôi lại có chiến tranh? Những người du kích bên kia sông là ai? Và ở đó những buổi chiều vàng, bên ngôi mộ nhỏ của mẹ, tôi để lòng tuôn chảy những suy tư, dằn vặt đang bắt đầu tích tụ. Từ khi năm bảy tuổi tôi đã linh cảm cuộc đời tôi sẽ là những ngày đầy biến cố. Tôi đã nghĩ đến chuyện một ngày nào đó tôi sẽ đi xa khỏi rặng tre già, khỏi ngôi làng tơ lụa Mã Châu dường như thôn làng nhỏ bé này sẽ không đủ lớn để chứa hết những buồn đau, u uất của tôi. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuổi ngày ưu tư và chờ đợi một điều gì sắp đến.
Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có ngay cả một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo, tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống. Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ dòng suối mát tôi nghĩ đến dòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ. Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn tuyệt đối.
Tôi về thăm mộ mẹ lần cuối vào năm 1980 trước ngày vượt biển. Ngôi mộ đầy cỏ mọc hoang vu. Sau 1975, ngay cả người sống cũng không ai chăm nom đừng nói gì chuyện chăm nom cho người đã chết. Hôm đó, tôi ngồi nơi tôi đã từng ngồi trong thời thơ ấu và kể cho mẹ nghe đoạn đời chìm nổi của mình. Tôi nói với mẹ rằng tôi sẽ ra đi khỏi nước và hứa sẽ về dù biết nói như thế chỉ để an ủi hương hồn mẹ mà thôi. Tôi cầu mong mẹ phò hộ cho đứa con duy nhất của mẹ được bình an trong những ngày sóng gió sắp xảy ra.
Ôi đời mẹ như một vầng trăng khuyết
Vẫn nghìn năm le lói ở đầu sông.
Vâng, vầng trăng bên dòng sông Thu Bồn từ đó không còn tròn như trước nữa.
Ai cũng có một cuộc đời để sống. Nỗi bất hạnh nào rồi cũng nguôi ngoai. Vết thương nào cũng lành đi với thời gian. Tuy nhiên có một nỗi bất hạnh sau bao nhiêu năm dài vẫn còn, đó là bất hạnh của dân tộc Việt Nam. Điều làm tôi đau xót nhiều hơn cả, không phải vì tôi mất mẹ, không phải vì tôi xa mẹ nhưng chính là sự chịu đựng của hàng triệu bà mẹ Việt Nam triền miên suốt mấy chục năm qua, từ chiến tranh sang đến cả hòa bình.
Trên thế giới này, bà mẹ Nga, mẹ Ý cũng thương con như một bà mẹ Việt Nam. Trong lúc tình yêu của một bà mẹ ở quốc gia nào cũng bao la, cũng rộng lượng, cũng vô bờ bến, tôi vẫn tin một bà mẹ Việt Nam thì khác hơn nhiều. Bà mẹ Việt Nam, ngoài là biểu tượng cho tất cả những nét đẹp của quê hương, đất nước, tình thương, còn là những hình ảnh đầy thương tích, tủi buồn nói lên sự chịu đựng, gian nan, khổ cực không thể nào đo lường hết được. Hình ảnh bà mẹ giăng tấm vải dầu trên một góc đường Trần Hưng Đạo để che nắng che mưa cho bầy con thơ dại đang đói khát. Hình ảnh bà mẹ chết đói sau khi ghe của mẹ đi lạc nhiều tuần trên biển. Hình ảnh bà mẹ chết trong mỏi mòn tuyệt vọng dưới gốc me già trên góc phố Sài Gòn vào một ngày mưa bão. Hình ảnh bà mẹ chết cô đơn trong chiếc thuyền chài nghèo nàn. Tất cả hình ảnh đau thương đó đã trở thành mối ám ảnh thường xuyên trong tâm trí tôi. Ám ảnh nhiều đến nổi, dù viết về bất cứ chủ đề gì, thể loại gì, văn hay thơ, cuối cùng tôi cũng trở về với hình ảnh mẹ. Mỗi bước chân tôi đi trên đường đời mấy chục năm qua vẫn còn nghe vọng lại tiếng khóc của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh, đã khóc trong chiến tranh, khóc trong hòa bình, khóc trong bàn tay hải tặc giữa biển Đông và khóc trên xứ người hiu quạnh.
Mơ ước lớn nhất của tôi, vì thế, không phải cho tôi mà cho những người mẹ đang chịu đựng, để các mẹ có cơ hội được sống trong một đất nước không còn hận thù, rẻ chia, ganh ghét, một đất nước chan chứa tình đồng bào, một đất nước thật sự tự do, ấm no, hạnh phúc. “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười” trong một ý nghĩa rộng hơn là ước mơ của tôi, của anh chị, của cô chú và của tất cả những ai còn nghĩ đến sinh mệnh của dân tộc, về một ngày đẹp trời cho đất nước mình. Quá nhiều máu và nước mắt đã đổ trên mảnh đất linh thiêng và thống khổ Việt Nam. Mỗi người Việt Nam, hơn bao giờ hết hãy trở về với mẹ như trở về với chính cội nguồn uyên nguyên của dân tộc mình. Trong đêm rằm tháng Bảy này, xin hãy cùng nhau thắp lên những ngọn nến, dù nhỏ, dù đơn sơ nhưng được làm bằng chất liệu dân tộc, nhân bản và khai phóng đã được tổ tiên chúng ta hun đúc sau hơn bốn ngàn năm lịch sử.
Đời tôi là những cơn mưa dài. Mưa khi tôi rời làng Mã Châu, mưa trong đêm đầu tiên trong căn gác trên đường Hùng Vương Đà Nẵng, mưa dưới gốc đa già ở Chùa Viên Giác, mưa khi tôi vừa đặt chân đến Sài Gòn lần đầu tiên và mưa lớn trong đêm tôi rời đất nước ra đi. Nhưng tôi chưa bao giờ tuyệt vọng, chưa bao giờ cảm thấy cuộc đời là hố thẳm. Tôi không sống trong hôm qua, trái lại mỗi ngày là một chặng đường mới của đời mình. Tôi bình tĩnh đến độ hồn nhiên khi đón nhận những khắc nghiệt đến với đời tôi và tôi rất lạc quan trong khả năng chuyển hóa hoàn cảnh của chính mình.
Trong cuộc đời này, tôi đã nhiều lần vấp ngã nhưng nhiều người cũng đã giúp vực tôi dậy, lau khô những vết thương trên thân thể và trong cả tâm hồn. Tôi mang ơn xã hội nhiều đến nỗi biết mình sẽ không bao giờ trả hết. Tôi biết ơn những người đã che chở cho tôi và cũng cám ơn cả những người đã dạy tôi hiểu giá trị của gian lao, thử thách. Cám ơn đất nước đã cho tôi được làm người Việt Nam, cám ơn mẹ Duy Xuyên mang tôi đến thế gian nầy, cám ơn mẹ Hòa Hưng nuôi nấng tôi trong những ngày bà con thân thuộc đã ruồng bỏ tôi, cám ơn cây đa già chùa Viên Giác che mát cho tôi suốt năm năm dài mưa nắng. Nếu một mai tôi ra đi không kịp viết điều gì, thì đây, những kỷ niệm của một lần ghé lại.
Trần Trung Đạo
by LTSA

Các kỹ sư Nhật Bản vừa trình làng kiểu xe lửa cao tốc, và sẽ bay chứ không phải chạy, nhưng không dùng kỹ thuật đêm hơi điện từ như kỹ thuật cũ của maglev. Xe lửa sẽ có tên là Aero Train sử dụng các cánh để bay là là trên mặt đất, hoàn toàn chạy bằng năng lượng gió và mặt trời. Buổi giới thiệu kỹ thuật này đã thực hiện trong hội chợ IEEE International Conference on Robotics tại Thượng Hải, Trung Quốc. Tốc độ cao nhất sẽ là 200 kilômét/giờ, chậm hơn các loại cao tốc khác, nhưng sẽ cứu được môi sinh địa cầu.(Photo Aero Train)
Gởi Bài Viết
Thông Báo
Mời ghé thăm
Bài Cũ
-
▼
2013
(1888)
- ► 10/27 - 11/03 (76)
- ► 10/20 - 10/27 (238)
- ► 10/13 - 10/20 (104)
- ► 10/06 - 10/13 (1)
- ► 09/29 - 10/06 (1)
- ► 09/22 - 09/29 (14)
- ► 09/15 - 09/22 (27)
- ► 09/08 - 09/15 (61)
- ► 09/01 - 09/08 (30)
- ► 08/25 - 09/01 (69)
- ► 08/18 - 08/25 (50)
- ► 08/11 - 08/18 (50)
- ► 08/04 - 08/11 (66)
- ► 07/28 - 08/04 (137)
- ► 07/21 - 07/28 (53)
- ► 07/14 - 07/21 (61)
- ► 07/07 - 07/14 (86)
- ► 06/30 - 07/07 (90)
- ► 06/23 - 06/30 (91)
- ► 06/16 - 06/23 (58)
- ► 06/09 - 06/16 (69)
- ► 06/02 - 06/09 (36)
- ► 05/26 - 06/02 (60)
- ► 05/19 - 05/26 (93)
- ► 05/12 - 05/19 (63)
- ► 05/05 - 05/12 (38)
- ► 04/28 - 05/05 (7)
- ► 04/21 - 04/28 (13)
- ► 04/14 - 04/21 (17)
- ► 04/07 - 04/14 (7)
- ► 03/31 - 04/07 (7)
- ► 03/24 - 03/31 (13)
- ► 03/17 - 03/24 (10)
- ► 03/10 - 03/17 (13)
- ► 03/03 - 03/10 (17)
- ► 02/24 - 03/03 (8)
- ► 02/17 - 02/24 (8)
- ► 02/10 - 02/17 (1)
- ► 02/03 - 02/10 (9)
- ► 01/27 - 02/03 (4)
- ► 01/20 - 01/27 (13)
- ► 01/13 - 01/20 (7)
- ► 01/06 - 01/13 (11)
-
►
2012
(1373)
- ► 12/30 - 01/06 (7)
- ► 12/23 - 12/30 (5)
- ► 12/16 - 12/23 (19)
- ► 12/09 - 12/16 (15)
- ► 12/02 - 12/09 (15)
- ► 11/25 - 12/02 (31)
- ► 11/18 - 11/25 (16)
- ► 11/11 - 11/18 (17)
- ► 11/04 - 11/11 (15)
- ► 10/28 - 11/04 (33)
- ► 10/21 - 10/28 (47)
- ► 10/14 - 10/21 (80)
- ► 10/07 - 10/14 (65)
- ► 09/30 - 10/07 (80)
- ► 09/23 - 09/30 (119)
- ► 09/16 - 09/23 (151)
- ► 09/09 - 09/16 (163)
- ► 09/02 - 09/09 (48)
- ► 08/26 - 09/02 (205)
- ► 08/19 - 08/26 (12)
- ► 08/12 - 08/19 (8)
- ► 08/05 - 08/12 (9)
- ► 07/29 - 08/05 (6)
- ► 07/22 - 07/29 (4)
- ► 07/15 - 07/22 (7)
- ► 07/08 - 07/15 (9)
- ► 07/01 - 07/08 (8)
- ► 06/24 - 07/01 (1)
- ► 06/17 - 06/24 (15)
- ► 06/10 - 06/17 (15)
- ► 06/03 - 06/10 (5)
- ► 05/27 - 06/03 (29)
- ► 05/20 - 05/27 (8)
- ► 05/13 - 05/20 (6)
- ► 05/06 - 05/13 (3)
- ► 04/29 - 05/06 (16)
- ► 04/22 - 04/29 (5)
- ► 04/15 - 04/22 (8)
- ► 04/08 - 04/15 (4)
- ► 04/01 - 04/08 (4)
- ► 03/18 - 03/25 (8)
- ► 03/11 - 03/18 (5)
- ► 03/04 - 03/11 (4)
- ► 02/26 - 03/04 (6)
- ► 02/19 - 02/26 (22)
- ► 02/12 - 02/19 (3)
- ► 01/08 - 01/15 (11)
- ► 01/01 - 01/08 (1)
-
►
2011
(293)
- ► 12/25 - 01/01 (4)
- ► 12/18 - 12/25 (5)
- ► 12/11 - 12/18 (5)
- ► 12/04 - 12/11 (7)
- ► 11/27 - 12/04 (4)
- ► 11/20 - 11/27 (3)
- ► 11/13 - 11/20 (4)
- ► 11/06 - 11/13 (6)
- ► 10/30 - 11/06 (1)
- ► 10/23 - 10/30 (2)
- ► 10/16 - 10/23 (3)
- ► 10/02 - 10/09 (1)
- ► 09/18 - 09/25 (1)
- ► 09/11 - 09/18 (3)
- ► 09/04 - 09/11 (3)
- ► 08/28 - 09/04 (4)
- ► 08/21 - 08/28 (3)
- ► 08/14 - 08/21 (1)
- ► 08/07 - 08/14 (4)
- ► 07/17 - 07/24 (8)
- ► 07/10 - 07/17 (10)
- ► 07/03 - 07/10 (11)
- ► 06/26 - 07/03 (7)
- ► 06/19 - 06/26 (7)
- ► 06/12 - 06/19 (14)
- ► 06/05 - 06/12 (6)
- ► 05/29 - 06/05 (17)
- ► 05/22 - 05/29 (9)
- ► 05/15 - 05/22 (20)
- ► 05/08 - 05/15 (24)
- ► 05/01 - 05/08 (11)
- ► 04/24 - 05/01 (15)
- ► 04/17 - 04/24 (4)
- ► 04/10 - 04/17 (8)
- ► 04/03 - 04/10 (4)
- ► 03/27 - 04/03 (4)
- ► 03/20 - 03/27 (2)
- ► 03/13 - 03/20 (2)
- ► 02/27 - 03/06 (3)
- ► 02/20 - 02/27 (3)
- ► 02/13 - 02/20 (6)
- ► 02/06 - 02/13 (6)
- ► 01/30 - 02/06 (5)
- ► 01/23 - 01/30 (15)
- ► 01/16 - 01/23 (3)
- ► 01/09 - 01/16 (5)
